vanban.org

Bản án 17

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b bị cáo Lâm Thành Ng (B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Thành Ng (B) 1 (một) năm, 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22 4/2020 (ngày hai mươi hai, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi). Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật H nh sự; Điều 1 6 Bộ luật T t ng h nh sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án hình sự đối với Lâm Thành Ng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Lâm Thành Ng (B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật T t ng h nh sự; Điều 47 Bộ luật H nh sự; Điều 6 Bộ luật T t ng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án s : 17/2020/HS-ST
Ngày: 24/7/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Hải;

2. Bà Châu Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Trầm Ngọc Minh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2 2 , tại tr s Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai v án h nh sự th lý s 11 2 2 TLST-HS ngày 7 tháng 7 năm 2 2 theo Quyết định đưa v án ra xét xử s 12 2 2 QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2 2 , đ i v i:

Bị cáo Lâm Thành Ng (B), sinh năm 1986, tại huyện TT, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; tr nh độ văn hóa (học vấn): 9 12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; qu c tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn C và bà Võ Thị Thu B; vợ: Nguyễn Thị Y; có 02 con, l n sinh năm: 2 1 ; nhỏ sinh năm: 2 11.

Tiền án: Ngày 11/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang, xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật H nh sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2 17, chấp hành xong h nh phạt ngày 6 6 2 19.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp d ng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 4 2 2 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp AT, xã LP, huyện TT, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Lâm Ngọc H, sinh năm 199 ; nơi cư trú: Khóm 2, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh An Giang.

- Ông Lê Văn Q, sinh năm 1988; nơi cư trú: Khóm AB, thị trấn BC, huyện TT, tỉnh An Giang.

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp AT, xã LP, huyện TT, tỉnh An Giang.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1996;

- Ông Lê Minh T,

sinh năm 1986;

- Ông Châu Thanh To (Ba Rượu).

(Tại phiên tòa, ông Kh có mặt. Những người còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 22/4/2020, Lâm Thành Ng điều khiển xe mô tô hiệu Novou (không rõ biển s ) ch T (không rõ nhân thân) từ thị trấn TT đến trư c quán bán thức ăn của bà Tôn Thị Tị ấp NT, xã AT, huyện TT, T dẫn xe hiệu Novou vào bên trong quán để xe này lại đây rồi dẫn xe mô tô biển s 54S - 6743 đưa Ng đỗ xăng. Lúc này Ng nghi ngờ T kêu ch để t m trộm tài sản, Ng điều khiển xe về hư ng xã VP 1 đoạn đến cầu Bến Bò rồi rẽ trái sang cầu sắt về hư ng ấp CN, xã LAT. Ng đứng đợi trên cầu sắt, còn T đi bộ đến khu vực đồng ruộng cách khoảng 1km, bẻ khóa lấy trộm xe mô tô biển s 67M1 – 763 loại Wave RS của ông Nguyễn Văn Kh rồi bẻ cong biển s . Xong, T đưa xe vừa trộm được cho Ng chạy, còn T chạy xe 54S-6743 theo tuyến đường cặp kênh CN về hư ng cầu C ng Ranh.

Đ i v i ông Kh, sau khi phát hiện xe m nh bị mất, ông thông tin cho người thân đón chặn và bắt giữ được Ng và xe cách hiện trường khảng 3km giao cho Công an xử lý. Tại cơ quan Công an Ng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, riêng T chạy thoát.

Ngày 01/5/2020 Ng bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TT kh i t về hành vị trộm cắp tài sản.

Theo Kết luận định giá tài sản s 25/BB-TTHS ngày 24/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong t t ng H nh sự huyện Tri Tôn kết luận: 1 (một) xe mô tô biển s 67M1 – 763 nhãn hiệu Honda, loại Wave RS, màu tím trị giá 8. . đồng.

Trong quá tr nh điều tra, truy t và tại phiên tòa bị cáo Lâm Thành Ng khai nhận: Ng quen T (quê Vĩnh Long) khi cả hai cùng làm thuê thành ph Hồ Chí Minh, T đến TT chơi 1 lần. Khi T đổi xe và kêu Ng ch vào khu vực đồng vắng thì Ngn đã nghi ngờ T t m trộm tài sản, nhưng v mu n hư ng lợi nên đã cùng T thực hiện hành vi và bị bắt như nội dung bản cáo trạng. Khi bị bắt bị cáo mặc áo thun ngắn tay màu đen, phía trư c ngực bên trái có chữ AF màu trắng, mặc quần Jean dài màu đen và 1 áo sơ mi dài tay vãi Jean màu xanh.

Bị hại Nguyễn Văn Kh trình bày: Khoảng 15 giờ 3 ngày 22 4 2 2 , ông điều khiển xe mô tô biển s 67M1 – 763 nhãn hiệu Honda, loại Wave RS từ nhà đến đất ruộng để xịt thu c. Cùng đi v i ông có các bà Cẩ, La mỗi người chạy 1 chiếc, nhưng đậu xe cùng một điểm cách đất ruộng khoảng 6 m. Đến khoảng 15 giờ 30 phút nghe bà La nói: “H nh như xe m nh có ai chạy” th ông chạy đển điểm để xe phát hiện xe ông bị mất, ông lấy điện thoại điện cho Di báo và nhờ Di đón chặn cầu C ng Ranh, sau đó ông lấy xe của bà La đuổi theo đến cầu đúc T6 th phát hiện xe ông ngã bên phải và thấy 2 người đàn ông đang rượt đuổi 1 thanh niên mặc áo màu đen, quần jean. Ông cùng 2 người đàn ông này đuổi theo và bắt được Lâm Thành Ng. Xe là ông nhờ anh ruột tên C mua của Lê Văn Q (bà con bên vợ ông anh C), vào năm 2 16 giá 7.5 . đồng, chưa sang tên. Hiện xe và giấy xe ông đã nhận lại không yêu cầu bồi thường, nhưng yêu cầu xử lý hanh vi của bị cáo.

Những người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án Lâm Ngọc H, Lê Văn Q và Nguyễn Văn H (C) trình bày:

Khoảng 14g3 ’ ngày 22 4 2 2 , khi đang u ng cà phê tại quán Sài Gòn th Ng điện thoại cho Hầu hỏi mượn xe Yamaha hiệu Novou màu đỏ đen nói “đi u ng cà phê v i người bạn lên chơi”, đến khoảng 15g ’ cùng ngày th H nghe ba ruột nói là Ng đang Công an do liên quan đến v trộm xe LAT. Từ ngày Ng bị bắt đến nay th H không biết xe của m nh đang đâu, cũng không biết bạn của Ng là ai.

Xe Wave RS màu tím BKS 67M1-0763 do Q mua Long Xuyên vào năm 2006, giá là 16.500.000 đồng. Đến năm 2 16 Q bán lại cho C 9.000.000 đồng. Do C là em bà con nên khi mua bán không làm giấy tờ, đến nay Q không biết C sử d ng hay bán xe như thế nào.

Nguyễn Văn H (C) cho biết: Xe bị lấy trộm hiệu Wave RS, màu tím, BKS 67M1- 763 đúng là do C mua lại của Q dùm cho Kh vào năm 2 16 v i giá 7.5 . đồng.

Những người làm chứng Nguyễn Văn Di, Lê Minh T, Châu Thanh To cùng cho biết:

Khoảng 17g ’ ngày 22 4 2 2 sau khi sửa máy xong, th có điện thoại do Kh gọi t i cho Di nói: “xe tao bị lấy trộm rồi, nó chạy về hư ng C ng Ranh, có quen ai kêu chặn lại dùm”. Sau đó Di gọi điện cho R hay và khi đến nơi Di thấy xe Wave RS màu tím, BKS 67M1- 763 bị ngã và đ i tượng đã bị bắt giữ.

Còn T khi nghe R nói có người bị mất xe, th T cùng R lấy cây chặn xe bị mất trộm. Khi đó có 1 người chạy xe ngang nhưng không gi ng đặc điểm như mô tả nên cho qua, tiếp đó có 1 thanh niên điều khiển xe hiệu wave RS màu tím chạy đến gi ng như đặc điểm xe bị mất nên T chặn lại và người thanh niên bỏ chạy được khoảng 500m th bị T và chủ xe bắt giữ giao công an xã LAT.

To khi đang nhà th Di điện thoại cho hay có v trộm xe, To chạy xe lại cầu T6 và gọi T ra giúp. Khi đó có 2 xe chạy đến, xe đầu tiên không phải và xe thứ 2 màu tím loại Wave RS, biển s cong th bị chặn và Toàn nói “chiếc này mày ăn trộm phải không” th người thanh niên đó nói “làm g ông chặn xe tôi” sau đó người thanh niên bỏ chạy th bị rượt theo bắt giữ lại.

Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia t t ng khác không có ý kiến hay khiếu nại g về kết luận định giá tài sản, kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ.

Bản cáo trạng s 11 CT–VKS ngày 07/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy t bị cáo Lâm Thành Ng về tội “Trộm cắp tài sản”.

Kiểm sát viên thực hành quyền công t tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy t . Sau khi đánh giá tính chất của v án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các t nh tiết tăng năng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp d ng: Khoản 1 Điều 173, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự năm 2 15 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2 17, xử phạt bị cáo Lâm Thành Ng từ 1 (một) năm, đến 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù.

Đ i v i T, do chưa xác định được nhân thân c thể nên quyết định tách v án để tiếp t c điều tra xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn Kh đã nhận lại tài sản bị trộm, không yêu cầu bồi thường, nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng của v án: Đề nghị áp d ng Điều 47 Bộ luật H nh sự; Điều 1 6 Bộ luật T t ng h nh sự. Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 1 áo thun ngắn tay màu đen, phía trư c ngực bên trái có chữ AF màu trắng; 1 quần Jean dài màu đen và 1 áo sơ mi dài tay vãi Jean màu xanh.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ h nh phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định t t ng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr nh tự, thủ t c quy định của Bộ luật T t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia t t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t t ng, người tiến hành t t ng. Do đó, các hành vi, quyết định t t ng của Cơ quan tiến hành t t ng, người tiến hành t t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Tại phiên tòa, lời nhận tội của bị cáo phù hợp v i lời khai bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp v i lời khai của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa v liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản s 25 BB-TTHS ngày 24/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong t t ng h nh sự huyện TT và các tài liệu, chứng cứ khác thu giữ trong hồ sơ, đủ cơ s kết luận: Bị cáo Ng là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm h nh sự, nhận thức được xe mô tô biển s 67M1 – 763 loại Wave RS có trị giá 8. . đồng là tài sản hợp pháp của người khác, nhưng lén lút lấy trộm là thể hiện lỗi c ý trực tiếp. Cho nên Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy t bị cáo về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự là đúng người, đúng tội.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên, trên cơ s hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX xét thấy bị cáo Ng là thanh niên khỏe mạnh b nh thường, có vợ con; lẽ ra bị cáo phải biết lao động chân chính để nuôi bản thân lo cho gia đ nh, làm gương cho hai con, nhưng bị cáo không làm điều đó mà chạy theo l i s ng buông thả, t tập thanh niên ăn chơi rồi lấy trộm tài sản. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. HĐXX cần có một mức án nghiêm tương xứng v i hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm trừng trị bị cáo; đồng thời cũng để răn đe, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Năm 2 18 bị cáo từng bị Tòa án nhân dân huyện TT xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành h nh phạt xong ngày 6 6 2 19, khi chưa tròn 1 năm th phạm tội m i, chứng tỏ ý thức ph c thiện của bị cáo là kém, lần phạm tội này là tái phạm, HĐXX cần áp d ng t nh tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự năm 2 15 đ i v i bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có vợ và 2 con nhỏ, chưa có nghề nghiệp, bị cáo là lao động chính, thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại và đầu thú khai nhận hành vi của m nh, được quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự 2 15, HĐXX có xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.

Về hình phạt bổ sung: Th ng nhất v i quan điểm kiểm sát viên là bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chỉ sinh s ng bằng nghề làm thuê, hoàn cảnh gia đ nh khó khăn, nên không áp d ng h nh phạt bổ sung là phạt tiền đ i v i bị cáo.

Đ i v i T, do chưa xác định được nhân thân c thể, nên HĐXX th ng nhất quan điểm quyết định tách v án để tiếp t c điều tra xử lý.

3 Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn Kh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, nên HĐXX không xem xét.

4 Về vật chứng của v án: 1 áo thun ngắn tay màu đen, phía trư c ngực bên trái có chữ AF màu trắng; 1 quần Jean dài màu đen và 1 áo sơ mi dài tay vãi Jean màu xanh. Là tài sản thuộc quyền s hữu hợp pháp của bị cáo, lẽ ra tuyên trả cho bị cáo, nhưng do bị cáo không yêu cầu và tài sản cũng không còn giá trị, nên th ng nhất tuyên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật T t ng h nh sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết s 326 2 16 UBTVQH14 ngày 3 -12-2 16 của Ủy ban Thường v Qu c hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên b bị cáo Lâm Thành Ng (B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật H nh sự năm 2 15 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2 17.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Thành Ng (B) 1 (một) năm, 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 22 4/2020 (ngày hai mươi hai, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi).

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật H nh sự; Điều 1 6 Bộ luật T t ng h nh sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 1 áo thun ngắn tay màu đen, phía trư c ngực bên trái có chữ AF màu trắng;

+ 1 quần Jean dài màu đen;

+ 1 áo sơ mi dài tay vãi Jean màu xanh.

(Vật tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện TT với Chi cục thi hành án huyện TT).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật T t ng h nh sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 2 16 UBTVQH14 ngày 3 tháng 12 năm 2 16 của Ủy ban Thường v Qu c hội về quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Lâm Thành Ng phải chịu 2 . đồng án phí h nh sự sơ thẩm.

Bị cáo và các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/7/2020), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng th thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được t ng đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ