vanban.org

Bản án 17/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí N phạm tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2025. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trí N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dâm ô với người dưới 16 tuổi - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí N phạm tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/HS-ST
Ngày: 14/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Ngọc Trao

Bà Lê Thị Kim Xuyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 175/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trí N, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1975 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Số C, tổ A, khu C, ấp P, xã Đ, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: ấp B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Căn cước công dân số 075075009677, cấp ngày 27 tháng 8 năm 2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên cha: Nguyễn Văn H, không rõ năm sinh ( Đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị N1, sinh năm 1953 (Còn sống).

Gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình. Có vợ là Đỗ Thị Kim H1, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất 2001.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2025, chuyển tạm giam đến nay.

Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam L – cơ sở 2, Trại giam S Công an tỉnh Đ.

Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Cháu Nguyễn Đỗ Lan A, sinh ngày 18/5/2012 (có mặt)

Người đại diện theo pháp luật của cháu Lan A: Ông Đỗ Thành B, sinh năm 1977 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Lan A: Bà Bùi Thị H2

- Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/7/2025, sau khi đã uống bia rượu N đi về nhà tại ấp B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai, để nằm nghỉ, lúc này tại nhà của N chỉ có cháu Lan A (cháu bên vợ N) và cháu Linh Đ, sinh năm 2024 đang chơi cùng nhau tại phòng khách và trong nhà không còn ai nữa, nên N nắm tay cháu Lan A vào phòng ngủ của vợ chồng N, sau đó N cởi quần cháu Lan A rồi N dùng tay sờ vào ngực và bộ phận sinh dục của cháu Lan A, tiếp đó N cởi quần của mình, rồi cầm tay cháu Lan A đặt vào bộ phận dương vật của N, nhằm để cháu Lan A kích thích, tiếp đến N dùng miệng hôn lên ngực và người cháu Lan A, được khoảng 03 đến 04 phút thì N bảo cháu Lan A ra ngoài để N ngủ. Ngày 11/7/2025, sau khi biết được ông Đỗ Văn B1 (là cha của cháu Lan A) phát hiện sự việc và trình báo Công an xã Đ, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Trí N đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ để đầu thú và khai nhận trước đó vào khoảng tháng 6 năm 2025, N đã 02 lần sờ mó bộ phận sinh dục của cháu Lan A (N không nhớ ngày cụ thể). Ngày 28/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định tổn thương bộ phận sinh dục và thu mẫu tinh dịch trong âm đạo của bị hại Nguyễn Đỗ Lan A.

Tại bản Kết luận giám định số 0025.02/KLTDTE-TTPYĐN ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ: màng trinh hình khe đường kính lỗ trinh 01 cm. Màng trinh rách củ vị trí 09 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu.

Tại Công văn số 344/TTPY-KGĐ ngày 27/11/2025 của Trung tâm pháp y, phúc đáp số 1060/CV-VPCQCSĐT:

Cơ chế dẫn đến rách màng trinh: Vấn đề này Trung tâm Pháp giải thích như sau:

- Cấu tạo của màng trinh: Màng trinh được cấu tạo bởi mô liên kết trong đó có thành phần sợi chun, sợi tạo keo và ít sợi cơ trơn. Ở những màng trinh có cấu tạo tỷ lệ sợi chun nhiều và dày thì sẽ có sự co giãn nhiều hơn như vậy.

- Màng trinh sẽ bị rách khi có bất kỳ một lực tác động quá sức chịu đựng về sự co giãn đó của màng trinh như: Quan hệ tình dục hay dùng một vật nào đó tác động lên toàn bộ màng trinh hoặc một vị trí nhất định của màng trinh hoặc đưa qua lỗ trinh.

- Xác định thời gian rách màng trinh: Bình thường khi màng trinh bị rách thì sau 4 đến 5 ngày tạo sẹo, từ 8 đến 10 ngày sẹo sẽ xơ hóa hoàn toàn. Tại thời điểm giám định màng trinh của Nguyễn Đỗ Lan A là rách cũ vị trí 09 giờ (Vết rách đã tạo xơ hóa hoàn toàn). Như vậy tổn thương rách màng trinh vị trí 09 giờ của Nguyễn Đỗ Lan A là tổn thương đã có cách ngày giám định (12/7/2025) ít nhất là 08 ngày. Vì vậy, không đủ cơ sở khoa học để xác định thời gian cụ thể.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện người bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự.

Về bồi thường dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận 10.000.000 đồng tiền bồi thường và đại diện có đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSKV2 ngày 09/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Trí N về tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” theo khoản 2 Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trí N về tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 146; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Trí N từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận 10.000.000 đồng tiền bồi thường và đại diện có đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.

Ý kiến của trợ giúp viên bà Bùi Thị H2 - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Nguyễn Đỗ Lan A trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo đáng lên án, đã làm ảnh hưởng lâu dài tâm sinh lý của bị hại. Tuy nhiên, bị cáo N cũng đã ăn năn hối cải, nhân thân tốt, đã khắc phục bồi thường, đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án phù hợp thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trí N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại cùng vật chứng được thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng tháng 06/2025 và ngày 05/7/2025 Nguyễn Trí N đã có hành vi dâm ô 03 lần với cháu Nguyễn Đỗ Lan A, sinh ngày 18/5/2012 tại ấp B, xã Đ, tỉnh Đồng Nai thì bị phát hiện xử lý.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, cháu Lan A mới 13 tuổi, 01 tháng, 03 tuần, 03 ngày. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trí N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, bị cáo thực hiện hành vi dâm ô 03 lần, vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai đã truy tố.

Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Trí N là người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ về pháp luật và xã hội, tuy nhiên chỉ vì nhu cầu sinh lý của bản thân, bị cáo đã có hành vi dâm ô đối với cháu Nguyễn Đỗ Lan A là người chưa đủ 16 tuổi có nhận thức về xã hội và pháp luật chưa đầy đủ, chưa ý thức được việc bảo vệ bản thân. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện người bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo các tình tiết trên khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền 10.000.000 đồng tiền bồi thường và có đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.

Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 146; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí N phạm tội “Dâm ô với người dưới 16 tuổi”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2025.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trí N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ