- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2026/HNGĐ-ST Ngày: 09-02-2026 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Viết Hữu và ông Phạm Thanh Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 117/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà số 07/2026/QĐST-HNGD ngày 21 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thúy H – sinh năm 1994
Nơi cư trú: ấp A, xã P, tỉnh Khánh Hòa
- Bị đơn: Anh Lê Văn P – sinh năm 1989
Nơi cư trú: tổ C, ấp P, xã T, tỉnh Đồng Nai
(Chị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/08/2025 và bản tự khai nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H, anh P tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2023 ngày15/02/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mặc dù đã cố gắng hoà giải và hàn gắn nhưng không thành. Từ tháng 6/2024 đến nay vợ chồng đã không còn sống chung. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh P.
-Về con chung: Chị H, anh P có 02 con chung là Lê Minh P1 – sinh ngày 23/3/2023; Lê Minh A – sinh ngày 12/10/2024. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu P1 và cháu A; không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung, do từ khi vợ chồng không sống chung chị H1 là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu P1 và cháu A.
- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn anh Lê Văn P: Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa anh P đều vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H, cho chị Trương Thị Thúy H được ly hôn với anh Lê Văn P.
- Về con chung: Giao hai con chung là Lê Minh P1 – sinh ngày 23/3/2023; Lê Minh A – sinh ngày 12/10/2024 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu.
- Về tài sản, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có phát sinh tranh chấp.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn anh Lê Văn P cư trú tại xã T, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Chị H yêu cầu khởi kiện ly hôn tranh chấp nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: Chị Trương Thị Thúy H là nguyên đơn; anh Lê Văn P là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự; chị H vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị H, anh P tự nguyện đi đến hôn nhân và có kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (xã P, huyện T cũ), tỉnh Đồng Nai (Nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 05/2023 ngày15/02/2023. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H, anh P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đời sống hôn nhân của chị H, anh P hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mặc dù đã cố gắng hoà giải và hàn gắn nhưng không thành. Từ tháng 6/2024, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, việc này phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng. Từ những lý do nêu trên, xác định được chị H, anh P trong quá trình sống chung đã không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình thì yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh P là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Xét thấy từ khi chị H, anh P không còn sống chung thì con chung do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, con chung sống trong môi trường đảm bảo các điều kiện phát triển tốt về mọi mặt. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Lê Minh P1 – sinh ngày 23/3/2023; Lê Minh A – sinh ngày 12/10/2024 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Anh P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không yêu cầu. Anh P có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Không có, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Trương Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 68, 147, 207, 220, 227, 228, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Thúy H. Chị Trương Thị Thúy H được ly hôn với anh Lê Văn P.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Lê Minh P1 – sinh ngày 23/3/2023; Lê Minh A – sinh ngày 12/10/2024 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh P có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản và nợ chung: Không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Trương Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002942 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 8 – Đồng Nai; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã Tà Lài, tỉnh Đồng Nai (để ghi vào sổ hộ tịch) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |