vanban.org

Bản án 17/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực và quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lù Thị L về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh Vương Quốc Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/HNGĐ-ST
Ngày 20-5-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bình.

Các Hội Thẩm nhân dân:

1. Ông Lù Xuân Tờ.

2. Bà Đỗ Thị Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lù Ngọc Sơn - Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lù Thị L, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn L, xã H, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bị đơn: Anh Vương Quốc Đ, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 11 năm 2025, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà nguyên đơn chị Lù Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lù Thị L và anh Vương Quốc Đ về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2018, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Đến ngày 09/4/2020 chị Lù Thị L và anh Vương Quốc Đ mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện H, tỉnh Hà Giang (Nay là UBND xã B, tỉnh Tuyên Quang). Sau kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thông cảm cho nhau dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau. Cuối năm 2022 chị L bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn L, xã H, tỉnh Tuyên Quang sống ly thân với anh Đ cho đến bây giờ. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng với anh Đ không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vì vậy chị L đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang giải quyết cho được ly hôn với anh Vương Quốc Đ.

Về con chung: Chị Lù Thị L và anh Vương Q Đại có 01 con chung là cháu Vương Phúc L1, sinh ngày 10/02/2020. Hiện cháu L1 đang ở với anh Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Lù Thị L đề nghị anh Vương Quốc Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L1 đến tuổi trưởng thành. Chị Lù Thị L không cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên toà chị Lù Thị L đề nghị anh Đ tiếp tục nuôi cháu L1 đến tuổi trưởng thành, chị L cấp dưỡng nuôi cháu L1 1.000.000 đồng một tháng với phương thức định kỳ hàng quý.

Về con riêng: Không có.

Về tài sản chung, tài sản riêng và các khoản nợ: Chị Lù Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Vương Quốc Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, hết thời hạn được thông báo anh Đ không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ cố tình trốn tránh không đến Tòa án để làm việc, không có ý kiến gì về việc chị L xin ly hôn anh Đ. Tòa án không lấy được lời khai anh Đ, không tiến hành được phiên hòa giải.

Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 23/4/2026, anh Đ không có mặt tại phiên tòa. Tòa án hoãn phiên tòa và ấn định ngày 20/5/2026 tiếp tục mở phiên tòa giải quyết vụ án. Ngày 20/5/2026 anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do.

Toà án xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị Lù Thị L và anh Vương Q Đại từ gia đình, hàng xóm, trưởng thôn, đại diện UBND xã B được biết năm 2018 chị L và anh Đ về chung sống với nhau như vợ chồng. Năm 2020 anh Đ và chị L có con chung là cháu Vương Phúc L1. Sau khi có con chung chị L và anh Đ đi đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện H, tỉnh Hà Giang (Nay là UBND xã B, tỉnh Tuyên Quang). Việc chung sống với nhau như vợ chồng và đăng ký kết hôn là do hai bên tự nguyện không bị ép buộc. Sau kết hôn hai vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Cuối năm 2022 chị L bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn L, xã H, tỉnh Tuyên Quang sống ly thân với anh Đ cho đến bây giờ. Từ khi chị L và anh Đ sống ly thân, cháu L1 ở với anh Đ và ông bà nội.

Tại biên bản xác minh ngày 17/12/2025 ông Vương Sèng P và bà Hoàng Thị X là bố mẹ đẻ của anh Vương Quốc Đ cho biết từ cuối năm 2022 chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ thôn L, xã H, tỉnh Tuyên Quang sống ly thân với anh Đ cho đến bây giờ. Cháu Vương Phúc L1 ở với anh Vương Quốc Đ và vợ chồng ông Vương Sèng P.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và tại phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành không đầy đủ theo Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lù Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lù Thị L được ly hôn với anh Vương Quốc Đ.

Về con chung: Giao các cháu V Phúc Lộc cho anh Vương Quốc Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Lù Thị L cấp dưỡng nuôi cháu Vương Phúc L1 với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng một tháng, theo phương thức định ký hàng quý.

Về con riêng: Không có.

Về tài chung, tài sản riêng và các khoản nợ: Chị Lù Thị L và anh Vương Quốc Đ không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

Về án phí: Chị Lù Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lù Thị L có đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Vương Quốc Đ và và yêu cầu anh Đ tiếp tục nuôi con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là ly hôn và tranh chấp nuôi con chung.

Về thẩm quyền: Người bị kiện anh Vương Q Đại Đại có nơi cư trú tại xã B, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực và quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ; Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang.

Về việc xét xử vắng mặt của các đương sự: Bị đơn anh Vương Quốc Đ đã được tống đạt hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng bị đơn cố tình không chấp hành. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về chứng cứ: Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới. Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ các đương sự đã giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án và tài liệu, chứng cứ do Tòa án đã thu thập theo khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không có căn cứ thể hiện việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lù Thị L và anh Vương Quốc Đ được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống chị L và anh Đ thường xuyên cãi vã, chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhau; không yêu thương, không giúp nhau cùng tiến bộ. Cuối năm 2022 chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ thôn L, xã H, tỉnh Tuyên Quang sống ly thân với anh Đ cho đến bây giờ. Qua xác minh tại địa phương được biết mâu thuẫn giữa chị L và anh Đ là đúng với trình bày của các đương sự. Như vậy anh Đ và chị L đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Chị Lù Thị L và anh Vương Q Đại có 01 con chung là cháu Vương Phúc L1, sinh ngày 10/02/2020. Chị L đề nghị giao cháu L1 cho anh Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy hiện chị L không có thu nhập ổn định, ở nhờ nhà bố mẹ đẻ, không có điều kiện nuôi con bằng anh Đ nên giao cháu L1 cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Việc cấp dưỡng nuôi con chung là nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con chung. Tại phiên toà chị Lù Thị L đề nghị được cấp dưỡng nuôi cháu Vương Phúc L1 1.000.000 đồng một tháng. Xét việc chị L cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng chị L đưa ra là phù hợp với Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về thăm nom và chăm sóc con chung: Chị Lù Thị L và anh Vương Quốc Đ không vi phạm nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung nên không bị hạn chế về quyền này. Các bên đương sự tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài chung, tài sản riêng và các khoản nợ: Chị Lù Thị L và anh Vương Quốc Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Vương Quốc Đ được Toà án triệu tập hợp lệ đến Toà án để tham gia tố tụng nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Toà án, điều này cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải tự chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ trên yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lù Thị L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh Vương Quốc Đ không phải chịu án phí theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực và quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lù Thị L về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với anh Vương Quốc Đ.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lù Thị L ly hôn với anh Vương Quốc Đ.

3. Về con chung: Chị Lù Thị L và anh Vương Q Đại có 01 con chung là cháu Vương Phúc L1, sinh ngày 10/02/2020. Giao cháu Vương Phúc L1 cho anh Vương Quốc Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lù Thị L cấp dưỡng nuôi cháu Vương Phúc L1 với mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) một tháng theo phương thức định kỳ hàng quý. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4. Về con riêng: Không có.

5. Về tài sản chung, tài sản riêng và các khoản nợ: Anh Vương Quốc Đ và chị Lù Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Chị Lù Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), và án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền án phí chị Lù Thị L phải nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001203 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Chị Lù Thị L phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Vương Quốc Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ