- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị Ngô Thị T với anh Trần Ngọc H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05-02-2026. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Hồ Điền.
2. Ông Nguyễn Văn Biên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt
2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc H, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 08/10/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ngô Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc H tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Anh chị đăng ký kết hôn ngày 18/02/2014, tại UBND xã H, huyện T (nay là UBND xã H), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, đến tháng 02/2022 thì phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân của vợ chồng càng ngày càng trầm trọng hơn. Từ cuối năm 2022 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị và anh Trần Ngọc H có 02 con chung là các cháu Trần Ngọc Bảo H2, sinh ngày 27/12/2015, Trần Ngọc Kim A, sinh ngày 16/11/2017. Ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giao cháu H2 và cháu Kim A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 23/10/2025, bị đơn là anh Trần Ngọc H bày:
Về hôn nhân: Thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng đời sống vợ chồng, anh thống nhất với ý kiến trình bày của chị Ngô Thị T. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh mong muốn vợ chồng được đoàn tụ. Trường hợp chị T vẫn cương quyết muốn ly hôn với anh thì anh cũng thống nhất với yêu cầu của chị T.
Về con chung: Anh và chị Ngô Thị T có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Bảo H2 và cháu Trần Ngọc Kim A, như chị T trình bày là đúng. Ly hôn, anh thống nhất với yêu cầu của chị T, đề nghị Toà án giao cháu H2 và cháu Kim A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại thôn H, xã L, tỉnh Thanh Hóa:
Vợ chồng anh Trần Ngọc H và chị Ngô Thị T kết hôn hợp pháp, cư trú tại thôn H, xã L, tỉnh Thanh Hoá. Sau thời gian chung sống hoà thuận, đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân ngày càng trầm trọng; từ cuối năm 2022 vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thôn không nắm rõ do không được đề nghị hoà giải.
Anh H, chị T có hai con chung là Trần Ngọc Bảo H2 (sinh ngày 27/12/2015) và Trần Ngọc Kim A (sinh ngày 16/11/2017), hiện đang sống cùng mẹ. Các cháu có điều kiện sinh sống ổn định, không bị ngược đãi. Cả anh H và chị T đều có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng; anh H làm lao động tự do, chị T là công nhân có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con.
Nguyện vọng của các cháu Trần Ngọc Bảo H2, Trần Ngọc Kim A: Khi anh H, chị T ly hôn, các cháu đều muốn ở với mẹ.
Tại phiên tòa, chị Ngô Thị T vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án, thông báo thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử; việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 97, 195, 196, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 51, 63 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 227 và 334 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ngô Thị T.
- Về hôn nhân:, xử cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Trần Ngọc H.
- Về con chung: Giao cháu Trần Ngọc Bảo H2 và cháu Trần Ngọc Kim A cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Trần Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Buộc chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa các đương sự có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn và cùng cư trú tại xã L, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hoá căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Anh Trần Ngọc H là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Chị Ngô Thị T và anh Trần Ngọc H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn năm 2014 tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị T nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp; từ cuối năm 2022 đến nay, vợ chồng sống trong tình trạng ly thân, không ai quan tâm đến ai; anh H cũng thống nhất với chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng đời sống vợ chồng. Lời khai của chị T, anh H phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án tại nơi cư trú của vợ chồng anh chị về tình trạng hôn nhân giữa hai anh chị. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị T đề nghị không tiến hành hoà giải. Điều đó thể hiện cả hai anh chị đều không có thiện chí để hoà giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Ngô Thị T, lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả xác minh của Tòa án tại nơi cư trú của vợ chồng chị Ngô Thị T, anh Trần Ngọc H; căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H để ổn định cuộc sống; yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, với lý do chính đáng nên chấp nhận yêu cầu trên, xử cho chị T được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Trần Ngọc H có 02 con chung là các cháu Trần Ngọc Bảo H2, Trần Ngọc Kim A. Hiện nay các cháu đang ở với chị T. Xét nguyện vọng của chị T về việc được trực tiếp nuôi con chung là chính đáng, phù hợp với tình cảm và trách nhiệm của người mẹ dành cho con cái. Căn cứ vào điều kiện nuôi con của đương sự, việc giao cháu H2 và cháu Kim A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, phù hợp với quy định của Điều 81 của Luật Hôn nhân & gia đình, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu; việc chị T không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con là H toàn tự nguyện nên có cơ sở để chấp nhận.
Về tài sản, công nợ chung: Chị Ngô Thị T, anh Trần Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn); anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83; khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 107; Điều 110; khoản 1 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T.
- Về hôn nhân: Chị Ngô Thị T được ly hôn anh Trần Ngọc H.
- Về con chung: Công nhận các cháu Trần Ngọc Bảo H2, sinh ngày 27/12/2015, Trần Ngọc Kim A, sinh ngày 16/11/2017 là các con chung của chị Ngô Thị T và anh Trần Ngọc H. Giao cháu H2 và cháu Kim A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con; anh H, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung không ai được cản trở.
2. Án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn); trừ vào số tiền 3 00.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo biên lai thu số: 0002138 ngày 15/10/2025. Công nhận chị T đã nộp đủ án phí
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 6; - THADS T.Thanh Hoá; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Tiến Thịnh |