vanban.org

Bản án 17/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Mùa Thị M được ly hôn anh Bàn Văn S.

Về con chung: Giao cháu Bàn Văn H, sinh ngày 13/6/2024 cho chị Mùa Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bàn Văn S do chị Mùa Thị M chưa yêu cầu. Không ai được c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Mùa Thị M được ly hôn anh Bàn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 3 - 2026.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lĩnh.

Ông Vì Văn Đạo.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5

- Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2025//TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mùa Thị M, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Bản SL, xã TH, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Bàn Văn S, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Bản SL, xã TH, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 16/9/2025 nguyên đơn chị Mùa Thị M trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mùa Thị M và anh Bàn Văn S kết hôn với nhau ngày 23 tháng 5 năm 2022 kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Tường Phong, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (nay là xã TH, tỉnh Sơn La). Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm sống từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Hai anh, chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Mùa Thị M làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bàn Văn S.

Về con chung: Hai anh chị có 01 con chung là cháu Bàn Văn H, sinh ngày 13/6/2024. Nếu được ly hôn nguyện vọng của chị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bàn Văn H đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. về cấp dưỡng chị không yêu cầu anh Bàn Văn S phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chị, anh tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị, anh tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Mùa Thị M xin miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại Bản tự khai ngày 24/10/2025 anh Bàn Văn S trình bày:

Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh hoàn toàn nhất trí như ý kiến của chị Mùa Thị M trình bày. Vợ chồng anh chị kết hôn với nhau ngày 23/5/2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tường Phong, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (nay là xã TH, tỉnh Sơn La). Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung, tình cảm không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Chị Mùa Thị M có đơn đề nghị xin ly hôn với anh, ý kiến của anh Bàn Văn S là không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh xác định có 01 con chung như chị Mùa Thị M trình bày. Nếu trường hợp ly hôn, anh Bàn Văn S yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bàn Văn H, sinh ngày 08/5/2023 cho đến khi đủ 18 tuổi, có khả năng lao động về cấp dưỡng anh không yêu cầu chị Mùa Thị M phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết về việc khởi kiện của nguyên đơn, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, bị đơn có bản tự khai. Toà án áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 56, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử cho chị Mùa Thị M được ly hôn với anh Bàn Văn S.

- Về con chung: Giao cháu Bàn Văn H, sinh ngày 13/6/2024 cho chị Mùa Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bàn Văn S do chị Mùa Thị M chưa yêu cầu.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Mùa Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Mùa Thị M khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Do đó, quan hệ pháp luật là “ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Bàn Văn S cư trú tại Bản SL, xã TH, tỉnh Sơn La. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.

Chị Mùa Thị M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn Anh Bàn Văn S đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bàn Văn S đã cố tình trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Toà án. Toà án đã tiến hành xác minh với chính quyền địa phương và gia đình anh Bàn Văn S về việc tống đạt văn bản tố tụng của Toà án đối với anh Bàn Văn S. Gia đình và chính quyền địa phương xác nhận có nhận được các văn bản tổ tụng của Toà án, đã thông báo, giải thích, động viên, thuyết phục để anh Bàn Văn S chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Anh Bàn Văn S biết chị Mùa Thị M khởi kiện ly hôn nhưng cố tình không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Chứng tỏ anh Bàn Văn S đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mùa Thị M và anh Bàn Văn S kết hôn với nhau ngày 23 tháng 5 năm 2022 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Tường Phong, tỉnh Sơn La (nay là xã TH, tỉnh Sơn La). Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TH, tỉnh Sơn La. Do đó quan hệ hôn nhân của chị Mùa Thị M và anh Bàn Văn S là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên khuyên ngăn, hoà giải nhưng không có kết quả, hai anh, chị đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Mùa Thị M và anh Bàn Văn S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Mùa Thị M được ly hôn anh Bàn Văn S.

Về con chung: Chị Mùa Thị M và anh Bàn Văn S có 01 con chung là Bàn Văn H, sinh ngày 13/6/2024. Chị Mùa Thị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bàn Văn H cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Xét thấy, cháu Bàn Văn H hiện nay đang sống cùng với chị Mùa Thị M, chị Mùa Thị M có công việc tại Công ty TNHH Dệt Nhuộm JaSan Việt Nam, thu nhập ổn định từ 6.000.0000đ đến 8.900.000đ/ 01 tháng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung cần giao cháu Bàn Văn H cho chị Mùa Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu thành niên, đủ 18 tuổi, có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng tạm hoãn việc cấp dưỡng đối với anh Bàn Văn S do chị Mùa Thị M chưa yêu cầu.

Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Mùa Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là hộ nghèo của xãTH, tỉnh Sơn La và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Mùa Thị M.

1. Xử cho chị Mùa Thị M được ly hôn anh Bàn Văn S.

2. Về con chung: Giao cháu Bàn Văn H, sinh ngày 13/6/2024 cho chị Mùa Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Bàn Văn S do chị Mùa Thị M chưa yêu cầu. Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về nợ chung: Anh, chị tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không đề nghị Tòa án giải quyết.

6. Về án phí: Chị Mùa Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho chị Mùa Thị M 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số: BLTU/25E/000931 ngày 23 tháng 12 năm 2025.

7. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ