- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà H D Byă về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Y V Bkrông;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2026/HNGĐ- ST Ngày 06/02/2026 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Long;
2. Bà Nguyễn Thị Bạn;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 1- Đắk Lắk;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 1- Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Chức vụ: Kiểm sát viên;
Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 1- Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 389/2025/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2026/QĐST- HNGĐ ngày 27 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà H D Byă, sinh năm 1979 (Có mặt);
Địa chỉ: Buôn C, phường E, tỉnh Đắk Lắk;
Bị đơn: Ông Y V Bkrông, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Buôn C, phường E, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Bà H D Byă trình bày có nội dung:
Bà H D Byă và ông Y V Bkrông tự nguyện chung sống vào năm 2000, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk;
Vợ chồng đã có các con chung là H’ N Byă, sinh ngày 21/11/2001; Y M Byă, sinh ngày 09/5/2003; Y’ Đ Byă, sinh ngày 27/6/2005; H’ A Byă, sinh ngày 20/01/2011 và H M Byă, sinh ngày 19/10/2013;
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, đến khoảng năm 2022 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cãi vã, bất hòa; nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, ông Y V Bkrông nhiều lần đánh đập Bà H D Byă. Mặc dù đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể duy trì nên Bà H D Byă có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Y V Bkrông;
Về con chung:
Các con chung là H’ N Byă, sinh ngày 21/11/2001; Y M Byă, sinh ngày 09/5/2003 và Y’ Đ Byă, sinh ngày 27/6/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Bà H D Byă có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là H’ A Byă, sinh ngày 20/01/2011 và H M Byă, sinh ngày 19/10/2013 cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về tài sản chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Hiện nay Bà H D Byă làm nghề thủ công và làm rẫy, thu nhập một tháng trung bình được khoảng 7.000.000 đồng;
Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông Y V Bkrông nhưng ông Y V Bkrông vắng mặt không lý do; do đó Tòa án không ghi được lời khai của ông Y V Bkrông và không tiến hành hòa giải cho các đương sự được;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 1- Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Khu Vực 1- Đắk Lắk đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án, xét thấy Bà H D Byă và ông Y V Bkrông tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Nay Bà H D Byă có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Y V Bkrông là có cơ sở chấp nhận;
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của Bà H D Byă về việc ly hôn với ông Y V Bkrông;
Về con chung: Các con chung là H’ N Byă, sinh ngày 21/11/2001; Y M Byă, sinh ngày 09/5/2003 và Y’ Đ Byă, sinh ngày 27/6/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Giao các con chung là H’ A Byă, sinh ngày 20/01/2011 và H M Byă, sinh ngày 19/10/2013 cho Bà H D Byă trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn Bà H D Byă có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Y V Bkrông có nơi cư trú tại Buôn C, phường E, tỉnh Đắk Lắk; đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu Vực 1-Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Y V Bkrông đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về quan hệ hôn nhân: Bà H D Byă và ông Y V Bkrông tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì hôn nhân, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng; nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay;
Xác minh tại địa phương thể hiện mâu thuẫn giữa Bà H D Byă và ông Y V Bkrông phát sinh đã lâu và kéo dài đến nay; mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó cần chấp nhận nguyện vọng ly hôn của Bà H D Byă là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Về con chung: Các con chung là H’ N Byă, sinh ngày 21/11/2001; Y M Byă, sinh ngày 09/5/2003 và Y’ Đ Byă, sinh ngày 27/6/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Các con chung là H’ A Byă, sinh ngày 20/01/2011 và H M Byă, sinh ngày 19/10/2013 đều có nguyện vọng được ở với mẹ; do đó cần giao các cháu cho Bà H D Byă trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Ông Y V Bkrông có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
Về tài sản chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về án phí: Bà H D Byă phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà H D Byă về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Y V Bkrông;
Về quan hệ hôn nhân: Bà H D Byă được ly hôn với ông Y V Bkrông;
Về con chung:
Các con chung là H’ N Byă, sinh ngày 21/11/2001; Y M Byă, sinh ngày 09/5/2003 và Y’ Đ Byă, sinh ngày 27/6/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Giao các con chung là H’ A Byă, sinh ngày 20/01/2011 và H M Byă, sinh ngày 19/10/2013 cho Bà H D Byă trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành;
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Ông Y V Bkrông có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;
Về tài sản chung: Bà H D Byă không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về án phí: Bà H D Byă phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà Bà H D Byă đã nộp theo biên lai thu số 0004401 ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
Nguyên đơn Bà H D Byă có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Bị đơn ông Y V Bkrông có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu Vực 1; - UBND phường E, tỉnh Đắk Lắk (Giấy CNĐKKH số 18, quyển 01/2000, ngày 14/02/2000 của UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk); - Thi hành án dân sự tỉnh ; - Các đương sự; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Diễm Hương |