vanban.org

Bản án 17/2026/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị Kim C có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thúy A tổng số tiền là: 40.500.000đ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bà Nguyễn Thúy A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị Kim C không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Đòi nợ hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2026/DS-ST
Ngày 30 - 01 - 2026
V/v Tranh chấp tiền hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Anh Minh.

Ông Bùi Đức Thắng;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1

- Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 554/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp tiền hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2457/2025/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy A, sinh năm 1997. CCCD số xxxxxxxxxxxx (có mặt).

Địa chỉ: Nhà không số, ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1994. CCCD số xxxxxxxxxxxx (vắng mặt).

Địa chỉ: Nhà không số, hẻm C, đường Đ, khóm B, phường A, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị Kim C có tham gia chơi hụi do bà làm chủ, cụ thể:

Dây 1: Hụi mở ngày 19/02/2025 dương lịch, loại hụi 300.000 đồng, gồm 52 phần, 01 ngày khui 01 lần, bà C tham gia 01 phần, hốt vào kỳ thứ 2 với số tiền 12.900.000đ. Sau khi hốt bà C có đóng lại được 06 kỳ hụi chết với số tiền 1.800.000đ. Dây hụi này bà C còn nợ số tiền 13.200.000đ (44 kỳ).

Dây 2: Hụi mở ngày 03/02/2025 dương lịch, loại hụi 100.000 đồng, gồm 99 phần, 01 ngày khui 01 lần, bà C tham gia 01 phần, hốt vào kỳ thứ 1 với số tiền 7.446.000đ. Sau khi hốt bà C có đóng lại được 23 kỳ hụi chết với số tiền 2.300.000đ. Dây hụi này bà C còn nợ số tiền 7.500.000đ (75 kỳ).

Dây 3: Hụi mở ngày 09/01/2025 dương lịch, loại hụi 100.000 đồng, gồm 60 phần, 01 ngày khui 01 lần, bà C tham gia 01 phần, hốt vào kỳ thứ 2 với số tiền 4.682.000đ. Sau khi hốt bà C có đóng lại được 40 kỳ hụi chết với số tiền 4.000.000đ. Dây hụi này bà C còn nợ số tiền 1.800.000đ (18 kỳ).

Dây 4: Hụi mở ngày 06/02/2025 dương lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm 12 phần, 07 ngày khui 01 lần, bà C tham gia 01 phần, hốt vào kỳ thứ 1 với số tiền 17.240.000đ. Sau khi hốt bà C có đóng lại được 02 kỳ hụi chết với số tiền 4.000.000đ. Dây hụi này bà C còn nợ số tiền 18.000.000đ (09 kỳ).

Tổng cộng các dây hụi, bà C còn nợ số tiền 40.500.000đ.

Nay bà yêu cầu bà Trần Thị Kim C có trách nhiệm hoàn trả tiền hụi còn nợ số tiền 40.500.000đ. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Quá trình thụ lý, hòa giải bị đơn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Trần Thị Kim C là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thúy A khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Kim C hoàn trả tổng số tiền 40.500.000đ. Bà Trần Thị Kim C không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Xét thấy: Tại danh sách hụi, sao kê Ngân hàng thể hiện bà C có tham gia hụi và nhận tiền hụi do bà A chuyển khoản, theo bà A trình bày các dây hụi (04 dây) sau khi hốt bà C có đóng hụi chết một thời gian thì ngưng và còn nợ lại 04 dây hụi, mỗi dây 01 phần với tổng số tiền 40.500.000 đồng, hiện các dây hụi đã mãn. Đối với bà C không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng không gửi văn bản trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng minh bà C còn nợ tiền hụi chết nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 40.500.000đ là có cơ sở.

Từ những đánh giá phân tích như trên, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tổng số tiền hụi còn nợ 40.500.000 đồng là có căn cứ được chấp nhận.

Về lãi suất: Nguyên đơn không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463; 466; 468, 471 Bộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị Kim C có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thúy A tổng số tiền là: 40.500.000đ (Bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bà Nguyễn Thúy A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị Kim C không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

+ Bà Trần Thị Kim C phải nộp 2.025.000đ (chưa nộp).

+ Bà Nguyễn Thúy A không phải nộp án phí. Vào ngày 19/11/2025 bà

Nguyễn Thúy A đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 1.012.000đ, tại lai thu số 0004938 được hoàn lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ