- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hoàng Kim V-Đào Thị H-Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu q…"
- Tòa quyết gì? Căn ứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2026/DS-PT Ngày 29-01-2026 V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy
Các Thẩm phán: Bà Lương Thị Nguyệt
Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Mi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thanh Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2025/TLPT- DS ngày 27 tháng 11 năm 2025 về việc Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27 2025 DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 ủa Tòa án nhân dân khu vự 1 - Lạng Sơn ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 88 2025 QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15 2026 QĐ-PT ngày 23 tháng 01 năm 2026, giữa á đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Hoàng Kim V, sinh năm 1977; ăn ước công dân (viết tắt là CCCD) số 020077013*** do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 06-9-2021; có mặt.
2. Bà Trình Thị K, sinh năm 1977; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 25-6-2021; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số 53, đường P, khối 4, phường K, tỉnh Lạng Sơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Kim V: Bà Lương Thị Kim M, Luật sư Văn phòng Luật sư K, thuộ đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ: Số 11, đường C, phường K, tỉnh Lạng Sơn; ó mặt.
- Bị đơn có yêu cầu phản tố: Bà Đào Thị H (Đào Thu H), sinh năm 1965; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 10-8-2023; địa chỉ: Số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn; ó mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1964; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 11-4-2024; địa chỉ: Khối 9, phường T, tỉnh Lạng Sơn; ó mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Vũ Quang V, sinh năm 1969; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 24-4-2021; địa chỉ: Số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn; ó mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1964; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 11-4-2024; địa chỉ: Khối 9, phường T, tỉnh Lạng Sơn; ó mặt.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1951; địa chỉ: Số 53, đường P, khối 4, phường K, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
3. Anh Vũ Quang Đ (Minh Q), sinh năm 1990; vắng mặt.
4. Chị Vũ Quỳnh T, sinh năm 1993; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn.
- Người kháng cáo: Bà Đào Thị H, là bị đơn ó yêu ầu phản tố trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo nguyên đơn trình bày:
Tháng 7-2019 bà Đào Thị H hỏi ông Hoàng Kim V vay 850.000.000 đồng, hai ên thống nhất ký Hợp đồng huyển nhượng thửa đất số 39, diện tí h 121,7m2, tờ ản đồ 28 phường T, tỉnh Lạng Sơn; trên đất ó tài sản là nhà ấp 4 mà gia đình à Đào Thị H đang quản lý sử dụng; địa hỉ số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn; đã đượ ấp Giấy hứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hộ à Chử Thị M vào ngày 10-12-2001 (gọi tắt là thửa đất số 39). Theo đó, ngày 24-7-2019, ụ Chử Thị M, ông Vũ Quang V, bà Đào Thị H, anh Vũ Quang Đ và hị Vũ Quỳnh T với ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K đã ký Hợp đồng huyển nhượng thửa đất số 39; Hợp đồng đã đượ ông hứng tại Văn phòng Công hứng số 1 tỉnh Lạng Sơn, ngày 25-7-2019 bà Đào Thị H và ông Hoàng Kim V ký Giấy xá nhận vay tiền ó nội dung: Bà Đào Thị H vay ông Hoàng Kim V 850.000.000 đồng, lãi xuất 15% năm; thoả thuận làm giấy huyển nhượng đất mang tên hủ hộ Chử Thị M; mỗi tháng à Đào Thị H có trá h nhiệm trả ả gố và lãi là 30.000.000 đồng, khi nào à Đào Thị H trả đủ ả gố và lãi, ông Hoàng Kim V ó trá h nhiệm làm thủ tụ huyển nhượng đất trả lại đất mang tên Chử Thị M cho bà Đào Thị H.
Ngày 15-8-2019 vợ hồng ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K đã đượ Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) tỉnh Lạng Sơn ấp GCNQSDĐ đối với thửa số 39.
Đến uối năm 2020 à Đào Thị H hỏi vay thêm 3.000.000.000 đồng. Ông Hoàng Kim V nói với à Đào Thị H, nếu vay số tiền lớn như vậy thì phải vay Ngân hàng, nếu à Đào Thị H đồng ý sẽ thế hấp đất thửa số 39 tại Ngân hàng, vợ hồng ông Hoàng Kim V sẽ đứng tên trên Hợp đồng tín dụng để vay tiền hộ bà Đào Thị H nhưng à Đào Thị H phải ó nghĩa vụ trả lãi hàng tháng và trả nợ gố ho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán; à Đào Thị H đồng ý.
Ngày 11-12-2020 ông Hoàng Kim V thự hiện thủ tụ thế hấp thửa đất số 39 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N - Chi nhánh Lạng Sơn để vay số tiền 3.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng. Bà Đào Thị H nhận số tiền 3.000.000.000 đồng với vợ hồng ông Hoàng Kim V. Sau khi vay, bà Đào Thị H trả lãi ho Ngân hàng đượ vài tháng đầu, sau đó à Đào Thị H không trả lãi nên ông Hoàng Kim V phải trả tiền lãi thay ho à Đào Thị H vì hợp đồng tín dụng đứng tên vợ hồng ông Hoàng Kim V.
Ngày 10-10-2021, ông Hoàng Kim V và bà Đào Thị H hốt số nợ ao gồm: nợ ũ, nợ mới và ả lãi mà ông Hoàng Kim V đã trả thay ho à Đào Thị H. Bà Đào Thị H ghi vào phần tiếp theo ủa Giấy xá nhận vay tiền đề ngày 25-7-2019: Tổng tiền vay ả ũ và mới, tiền lãi là 3.160.000.000 đồng; à Đào Thị H đồng ý ho ông Hoàng Kim V ………..0000 ầm Ngân hàng, lú nào ó tiền thì huộ , nếu không thì sẽ huyển nhượng theo giá thị trường. Ông Hoàng Kim V yêu ầu à Đào Thị H phải thu xếp để trả Ngân hàng vì sắp đến hạn thanh toán ả gố và lãi nhưng à Đào Thị H không trả đượ nợ. Để giữ uy tín với Ngân hàng uộ ông Hoàng Kim V phải đi vay tiền hỗ khá để tất toán với Ngân hàng và giải hấp.
Sau đó, ông Hoàng Kim V đã nhiều lần yêu ầu à Đào Thị H trả nợ nhưng không ó kết quả. Ngày 22-6-2022, hai ên hốt số nợ là 3.400.000.000 đồng đượ thể hiện tại Giấy vay tiền đề ngày 22-6-2022 do bà Đào Thị H viết và ký.
Ngày 25-3-2023 ông Hoàng Kim V đến nhà à Đào Thị H yêu ầu trả nợ ả gố và lãi là 3.850.000.000 đồng. Lúc này, ông Hoàng Kim V mới iết à Đào Thị H uôn án thất thoát không ó khả năng trả nợ. Bà Đào Thị H yêu ầu ông Hoàng Kim V lấy nhà đất tại thửa đất số 39 để trừ nợ như thỏa thuận giữa hai ên trướ khi thế hấp Ngân hàng và à Đào Thị H yêu ầu ông Hoàng Kim V phải trả thêm ho à 200.000.000 đồng; ông Hoàng Kim V đồng ý. Vì vậy, à Đào Thị H đã viết giấy ó nội dung: Bà Đào Thị H và ông Vũ Quang V ó nhận tiền huyển nhượng đất, số tiền mới nhận là 200.000.000 đồng, số tiền ũ là 3.450.000.000 đồng, ộng với 08 tháng tiền lãi ủa số tiền mà à Đào Thị H nhờ ông vay Ngân hàng là 400.000.000 đồng. Vì vậy, giá huyển nhượng thửa đất số 39 mà Đào Thị H đã nhận với ông Hoàng Kim V tổng ộng là 4.050.000.000 đồng; đượ thể hiện tại giấy lập ngày 25-3-2023 do bà Đào Thị H viết.
Do bà Đào Thị H gây khó khăn ho ông Hoàng Kim V trong việ giao tài sản đã huyển nhượng là nhà đất tại thửa đất số 39. Vì vậy, ông Hoàng Kim V khởi kiện yêu ầu: Buộ à Đào Thị H trả lại nhà đất tại thửa 39; địa hỉ: số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn; đã đượ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn ấp GCNQSDĐ mang tên ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K vào ngày 15-8-2019. Trong trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng huyển nhượng vô hiệu thì ông Hoàng Kim V yêu ầu à Đào Thị H phải trả ho ông số tiền là 4.050.000.000 đồng và uộ à Đào Thị H phải trả lãi từ ngày 25-3-2023 theo quy định ủa pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông Hoàng Kim V thay đổi yêu ầu khởi kiện, ụ thể: Ông Hoàng Kim V yêu ầu uộ à Đào Thị H phải trả số tiền là 4.050.000.000 đồng và tính lãi xuất từ ngày 25-3-2023 theo quy định tại khoản 2 Điều 468 ủa Bộ luật Dân sự ho đến ngày xét xử sơ thẩm. Ông Hoàng Kim V nhất trí đối với yêu ầu phản tố ủa ị đơn Đào Thị H về việ tuyên ố Hợp đồng huyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký giữa ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K với à Chử Thị M, bà Đào Thị H, ông Vũ Quang V, anh Vũ Quang Đ, hị Vũ Quỳnh T là vô hiệu.
Bị đơn có yêu cầu phản tố bà Đào Thị H trình bày:
Ngày 25-7-2019 à ó vay ủa ông Hoàng Kim V 850.000.000 đồng, lãi xuất 15% năm theo mứ lãi xuất Ngân hàng tại thời điểm vay; tài sản thế hấp để vay khoản tiền trên và việ ký Hợp đồng huyển nhượng đúng như ông Hoàng Kim V đã trình ày. Từ sau khi vay ho đến khoảng uối năm 2021, tháng nào à ũng trả ho ông Hoàng Kim V 30.000.000 đồng, sau đó thì không ó khả năng trả tiền lãi, gố nữa. Ngoài ra à Đào Thị H còn trình bày, ngoài khoản vay 850.000.000 đồng, à òn giấu hồng vay thêm khoản tiền khá , ó lần vay tiền ủa à Nguyễn Thị H (là mẹ ông Hoàng Kim V) để trả ho ông Hoàng Kim V và ngượ lại; hiện nay à không nhớ rõ số tiền và thời gian vay những khoản này.
Giấy nhận nợ ngày 25-3-2023 mà ông Hoàng Kim V ung ấp ho Tòa án là do à viết theo yêu ầu ủa ông Hoàng Kim V hứ thự tế à không vay ông Hoàng Kim V số tiền 3.850.000.000 đồng và ũng không đượ nhận 200.000.000 đồng như đã ghi trong giấy; à hỉ đượ vay ông Hoàng Kim V số tiền 850.000.000 đồng.
Ngày 31-7-2025, bà Đào Thị H ó yêu ầu phản tố đề nghị Toà án tuyên ố Hợp đồng huyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 24-7-2019 giữa gia đình à với ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K vô hiệu; yêu ầu giải quyết hậu quả ủa hợp đồng vô hiệu. Yêu ầu phản tố ủa à Đào Thị H đã đượ Toà án ấp sơ thẩm thụ lý ngày 01-8-2025.
Theo kết quả thẩm định, định giá tài sản: Tài sản tranh hấp thuộ một phần thửa 39 và một phần thửa 40 tờ ản đồ 28 phường T, tỉnh Lạng Sơn; trên đất ó 01 ngôi nhà ấp 4 diện tí h 62,3m2 xây dựng năm 1974; địa hỉ số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả định giá đất ó giá 45.000.000 đồng m2 x 120,8m2 = 5.436.000.000 đồng; tổng giá trị đất và tài sản trên đất là 5.448.785.560 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27 2025 DS-ST ngày 27-9-2025 của Tòa án nhân khu vự 1 - Lạng Sơn đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu ầu khởi kiện ủa nguyên đơn ông Hoàng Kim V đối với à Đào Thị H, ụ thể:
Buộ à Đào Thị H phải trả ho ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K tổng ộng 5.066.383.562 đồng, ao gồm: nợ gố là 4.050.000.000 đồng và tiền lãi là 1.016.383.562 đồng, tính từ ngày 26-3-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27-9-2025) theo mứ lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 ủa Bộ luật Dân sự.
Kể từ ngày tiếp theo ủa ngày xét xử sơ thẩm ho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, à Đào Thị H òn phải hịu khoản tiền lãi ủa số tiền òn phải thi hành án theo mứ lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 ủa Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Tuyên ố Hợp đồng huyển nhượng quyền sử dụng giữa ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K với à Chử Thị M (đã hết), ông Vũ Quang V, bà Đào Thị H, anh Vũ Quang Đ (Minh Q) và hị Vũ Quỳnh T lập ngày 24-7-2019, đã đượ thự hiện ông hứng tại Văn phòng Công hứng số 1 tỉnh Lạng Sơn; là vô hiệu.
3. Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Hộ gia đình à Đào Thị H tiếp tụ đượ quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất và tài sản khá gắn liền với đất; có quyền kê khai ấp Giấy hứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất, đối với thửa đất số 39, tờ ản đồ số 28, diện tí h 121,7m2; địa hỉ: Khối 2, phường T, tỉnh Lạng Sơn; theo Giấy hứng nhận quyền sử dụng đất số ìa CR 510178; số vào số ấp GCN: CS-03848 ngày 15-8-2019 mang tên ông Hoàng Kim V và vợ là bà Trình Thị K, do Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) tỉnh Lạng Sơn ấp.
Ngoài ra, Bản án òn tuyên nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận; bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạ h là 113.066.000 đồng; tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của á đương sự.
Trong thời hạn luật định, bà Đào Thị H kháng áo đề nghị xét xử đúng như thực tế số tiền bà Đào Thị H vay ông Hoàng Kim V là 850.000.0000 đồng, hiện còn nợ là 486.000.000 đồng; số tiền ông Hoàng Kim V yêu cầu trả 4.050.000.000 đồng là không đúng, vì à Đào Thị H không được vay mà do ông Hoàng Kim V ép bà Đào Thị H viết giấy.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Thực tế bị đơn hỉ đượ vay nguyên đơn số tiền 850.000.000 đồng theo giấy vay lập ngày 25-7-2019. Những giấy lập sau đó là do nguyên đơn yêu ầu bị đơn viết nhưng thực tế bị đơn không được nhận tiền; do bị đơn ần tiền nên có hỏi vay tiền nguyên đơn, nguyên đơn yêu ầu bị đơn viết giấy và hẹn chiều tối cùng ngày hoặ ngày hôm sau đến lấy tiền nhưng khi bị đơn đến thì nguyên đơn trả lời không có tiền cho vay; bị đơn ó đòi lại giấy vay đã viết đưa ho nguyên đơn trướ đó nhưng nguyên đơn không trả. Sau khi vay số tiền 850.000.000 đồng, bị đơn đã huyển khoản để thanh toán tổng cộng 874.000.000 đồng bao gồm cả gốc và lãi; ngoài ra bị đơn òn trả tiền mặt nhưng không ó ăn ứ để chứng minh. Số tiền lãi của 850.000.000 đồng x 15% năm x 04 năm (tính từ tháng 7-2019 đến tháng 7-2023) là 510.000.000 đồng. Vì vậy, số tiền bị đơn hiện còn nợ nguyên đơn là 486.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến việc tính lãi của nguyên đơn, theo nguyên đơn trình bày là 15% năm nhưng thực tế là 15%/tháng vì nếu tính lãi suất theo năm thì không ai trả tiền lãi hằng tháng.
Ông Hoàng Kim V và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hoàng Kim V trình bày: Các giấy vay đề ngày 25-7-2019, 10-10-2021, 22-6-2022 và 25-3-2023 đều do bà Đào Thị H tự viết và ký tên. Nội dung các giấy vay nói trên thể hiện khoản vay nợ đầu tiên của bà Đào Thị H là 850.000.000 đồng, sau đó số nợ được cộng lũy kế tiền nợ mới và tiền lãi và đã trừ đi tổng số tiền 874.000.000 đồng mà vợ chồng bà Đào Thị H chuyển khoản trả cho nguyên đơn. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không ó ăn ứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn, ông Vũ Quang V: Nhất trí với ý kiến trình bày của bà Đào Thị H.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát iểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết kháng cáo của bà Đào Thị H:
Theo giấy xác nhận các ngày 25-7-2019, 10-10-2021, 22-6-2022 và 25-3-2023 đều do bà Đào Thị H viết và ký họ tên. Đối với số tiền vay an đầu vào ngày 25-7-2019 là 850.000.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bà Đào Thị H thừa nhận hưa trả hết số tiền này; ngoài ra, bà Đào Thị H còn trình bày ngoài số tiền 850.000.000 đồng nói trên bà còn vay bà Nguyễn Thị H (mẹ của ông Hoàng Kim V) nhưng không nhớ rõ số tiền vay và thời gian vay; có lần vay của bà Nguyễn Thị H trả cho ông Hoàng Kim V, rồi vay của ông Hoàng Kim V trả cho bà Nguyễn Thị H. Tại bản tự khai ngày 17-4-2024 (bút lục 58) bà Đào Thị H trình ày: Năm 2019 vay ủa ông Hoàng Kim V 02 lần: Lần 1 là 850.000.000 đồng; lần 2 là 300.000.000 đồng; vay của mẹ ông Hoàng Kim V 03 lần, trong đó ó 02 lần mỗi lần 400.000.000 đồng và 01 lần 600.000.000 đồng.
Bà Đào Thị H là người ó năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên ó đủ nhận thức hậu quả của việc vay nợ. Vì vậy, việc bà Đào Thị H trình bày các giấy có nội dung nhận nợ nói trên là do bà viết theo yêu cầu của ông Hoàng Kim V nhưng thực tế à không được nhận tiền là không ó ơ sở và mâu thuẫn với chính lời trình bày của bà Đào Thị H. Theo giấy nhận nợ sau cùng là ngày 25-3-2023, bà Đào Thị H nợ ông Hoàng Kim V tổng số tiền ũ 3.850.000.000đồng và số tiền mới nhận là 200.000.000 đồng, tổng cộng là 4.050.000.000 đồng. Nguyên đơn yêu ầu trả nợ và tính lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự (là 10%) kể từ ngày 25-3-2023 là ó ăn ứ, phù hợp quy định pháp luật. Do đó, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, uộc bị đơn trả số tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm với tổng số tiền 5.066.383.562 đồng là ó ăn ứ. Nay bà Đào Thị H kháng cáo cho rằng chỉ còn nợ nguyên đơn 486.000.000 đồng là không có căn ứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Tuy nhiên, qua kiểm sát Bản án thấy Bản án sơ thẩm có một số thiếu sót như sau:
Tại mục [9] của Bản án sơ thẩm nhận định yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình à Đào Thị H và vợ chồng ông Hoàng Kim V vô hiệu là ó ăn ứ nhưng tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm không tuyên chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đầy đủ.
Áp dụng thiếu điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí trong tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ung ấp bản sao Trích lục khai tử thể hiện cụ Chử Thị M đã hết năm 2020 và trình ày: Trước khi chết, cụ Chử Thị M không để lại di chúc, chồng của cụ Chử Thị M là cụ Vũ Xuân A (đã hết); cụ Chử Thị M ó 06 người con: Vũ Xuân D, Vũ Bí h H, Vũ Quang V, Vũ Kim H, Vũ Đức D (đã hết năm 2011 ó on là Vũ Minh H và Vũ Quốc H), Vũ Minh Q (không có vợ con, đã hết năm 2015). Do Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, cụ Chử Thị M đã hết. Do đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và những người thừa kế thế vị của ông Vũ Đức D có quyền, nghĩa vụ kê khai cấp GCNQSDĐ theo quy định pháp luật về đất đai.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn ứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Đào Thị H; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2025/DS-ST ngày 27-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn theo nội dung đã phân tích nói trên. Về án phí sơ thẩm, án phí phúc thẩm đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Phiên tòa vắng mặt nguyên đơn à Trình Thị K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H, anh Vũ Quang Đ, chị Vũ Quỳnh T. Tuy nhiên, đây là phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa không ai đề nghị hoãn phiên tòa. Vì vậy, căn ứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt một số người tham gia tố tụng có tên nói trên.
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện đòi lại tài sản (nhà đất) theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bị đơn ó yêu ầu phản tố đề nghị tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn hỉ yêu cầu bị đơn trả lại tiền đã vay nợ. Do đó, ấp phúc thẩm xá định lại quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Đào Thị H ho rằng: Bà Đào Thị H chỉ được vay ông Hoàng Kim V 850.000.000 đồng theo giấy vay lập ngày 25-7-2019 và đã chuyển khoản trả tổng cộng 874.000.000 đồng bao gồm cả gốc và lãi, nên số tiền bị đơn hiện còn nợ nguyên đơn là 486.000.000 đồng; số tiền ông Hoàng Kim V yêu cầu bà phải trả là 4.050.000.000 đồng là không đúng vì à không được nhận tiền mà do ông Hoàng Kim V ép bà viết giấy; đề nghị xem xét lại mức lãi suất mà ông Hoàng Kim V đã tính đối với bà là 15%/tháng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Giấy vay tiền đề ngày 25-7-2019 do bà Đào Thị H viết thể hiện à Đào Thị H vay ông Hoàng Kim V số tiền 850.000.000 đồng; hai ên thỏa thuận làm Hợp đồng huyển nhượng nhà đất đối với thửa đất số 39, sau khi à Đào Thị H trả đủ tiền gố và lãi thì ông Hoàng Kim V ó trá h nhiệm làm thủ tụ huyển nhượng lại nhà đất ho à Đào Thị H.
Ngày 10-10-2021, bà Đào Thị H viết tiếp vào giấy vay tiền có nội dung: “Tính đến ngày 10-10-2021 tổng ả ũ và mới hị vay V là 3 tỷ 100.000, tổng lãi 60.000.000 đồng; tôi đồng ý ho anh V ầm ngân hàng, lú nào ó tiền thì tôi huộ lại, nếu không ó tiền huộ thì tôi án huyển nhượng theo giá thị trường”.
Ngày 22-6-2022, bà Đào Thị H viết giấy với nội dung: “tên tôi là Đào Thị H… tôi ó vay ủa anh Hoàng Kim V số tiền là 3 tỷ 400 triệu đồng hẵn”.
Ngày 25-3-2025 bà Đào Thị H viết giấy với nội dung: Tôi là Đào Thị H, hồng là Vũ Quang V, ó nhận tiền huyển nhượng đất số 105 đường L, phường T, thành phố L ủa anh Hoàng Kim V và Trình Thị K số tiền là 200.000.000 đồng, mới nhận, ũ là 3.450.000.000đồng + 400.000.000 đồng + 8 tháng tiền lãi theo ngân hàng = 3.850.000.000 đồng.
Bà Đào Thị H đã nhiều lần (04 lần) viết giấy ó nội dung thể hiện việ à Đào Thị H vay nợ tiền ông Hoàng Kim V. Cá giấy vay tiền, nhận nợ nói trên đều do hính à Đào Thị H tự tay viết, ký và ghi rõ họ tên, nội dung thể hiện rõ việ à Đào Thị H xá nhận tổng số tiền nợ, số tiền nhận với ông Hoàng Kim V tại thời điểm lập giấy. Nội dung này phù hợp với lời trình ày ủa ông Hoàng Kim V và những tài liệu hứng ứ khá ó trong hồ sơ vụ án.
Mặt khác, bà Đào Thị H là người ó năng lực hành vi dân sự đầy đủ nên ó đủ nhận thức về hậu quả của việc vay nợ; không ó ăn ứ để chứng minh bà Đào Thị H bị đe dọa, ép buộc khi viết và ký 04 giấy nhận nợ nói trên.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Đào Thị H trình bày tổng số tiền mà à đã huyển khoản cho ông Hoàng Kim V là 874.000.000 đồng, ông Hoàng Kim V thừa nhận nội dung này. Vì vậy, theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh.
Theo sao kê ngân hàng và Đơn trình ày ủa ông Vũ Quang V thể hiện thời gian huyển tiền và số tiền ủa mỗi lần ị đơn huyển ho ông Hoàng Kim V không ố định; vì vậy việ à Đào Thị H trình ày tháng nào à ũng trả cho ông Hoàng Kim V 30.000.000 đồng và việ ông Hoàng Kim V tính lãi 15% tháng là không ó ăn ứ. Mặt khá , lần đầu à Đào Thị H huyển tiền ho ông Hoàng Kim V vào ngày 20-8-2020 và lần uối ùng à Đào Thị H huyển tiền trả ông Hoàng Kim V là ngày 11-7-2022, điều này thể hiện những lần à Đào Thị H huyển khoản để trả nợ ông Hoàng Kim V đều diễn ra trướ thời điểm hai ên viết giấy nhận nợ ngày 25-3-2023; dó đó việ ông Hoàng Kim V trình ày, số tiền mà à Đào Thị H huyển trả nợ đã đượ trừ để tính lũy kế ủa mỗi lần hốt nợ là ó ăn ứ. Do bà Đào Thị H và ông Vũ Quang V không có tài liệu hứng ứ để hứng minh việ trả nợ ông Hoàng Kim V ằng hình thứ trự tiếp ằng tiền mặt, nên Hội đồng xét xử không ó ăn ứ để xem xét.
Vì vậy, số tiền 4.050.000.000 đồng là khoản nợ đã đượ à Đào Thị H và ông Hoàng Kim V hốt vào ngày 25-3-2023, đượ thể hiện tại văn ản do bà Đào Thị H tự viết và ký nhận; từ đó ho đến nay, à Đào Thị H hưa trả thêm nguyên đơn khoản tiền nào. Vì vậy, ấp sơ thẩm uộ à Đào Thị H phải trả nguyên đơn số tiền 4.050.000.000 đồng là phù hợp. Việ à Đào Thị H kháng áo ho rằng hỉ òn nợ ông Hoàng Kim V 486.000.000 đồng là không ó ăn ứ hấp nhận.
Về lãi suất: Như đã phân tí h ở trên, không ó ăn ứ xá định ông Hoàng Kim V tính lãi 15% tháng, vì vậy mứ lãi suất 15% thể hiện tại giấy vay lập ngày 25-7-2019 là phù hợp với Điều 468 ủa Bộ luật Dân sự. Tại văn ản hốt nợ lập ngày 25-3-2023 ó nội dung về tiền lãi nhưng không ghi rõ ụ thể mứ lãi suất nên Tòa án ấp sơ thẩm đã áp dụng mứ lãi suất theo quy định lại khoản 2 Điều 468 ủa Bộ luật Dân sự là 10% để uộ à Đào Thị H phải trả cho ông Hoàng Kim V; thời hạn tính lãi suất kể từ ngày tiếp theo ủa ngày hốt nợ ngày (25-3-2023) đến ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với quy định ủa pháp luật.
Từ những phân tí h và đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy Bản án sơ thẩm hấp nhận yêu ầu khởi kiện ủa nguyên đơn, uộ à Đào Thị H phải trả nguyên đơn số tiền 4.050.000.000 đồng tiền gố và 1.016.383.562 đồng tiền lãi là ó ăn ứ, phù hợp với quy định ủa pháp luật. Do đó, việ à Đào Thị H kháng áo ho rằng hỉ òn nợ ông Hoàng Kim V 486.000.000 đồng và đề nghị xem xét lại mứ lãi suất mà ông Hoàng Kim V tính là 15%/tháng là không có ăn ứ. Vì vậy, không ó ăn ứ để hấp nhận kháng áo ủa à Đào Thị H.
Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm òn ó một số thiếu sót ần rút kinh nghiệm, ụ thể:
Bản án sơ thẩm nhận định yêu cầu phản tố của bị đơn về việ đề nghị tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 39, giữa cụ Chử Thị M và vợ chồng bà Đào Thị H cùng 02 con là anh Vũ Quang Đ, chị Vũ Quỳnh T với vợ chồng ông Hoàng Kim V vô hiệu là ó ăn ứ, nhưng tại phần quyết định của Bản án sơ thẩm không tuyên chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là hưa đầy đủ.
Mặt khác, hiện nay thửa đất số 39 đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K; ngày 01-11-2020 cụ Chử Thị M chết; bà Đào Thị H và ông Vũ Quang V thừa nhận khi chết cụ Chử Thị M không để lại di hú và đến nay các con của cụ Chử Thị M không có tranh chấp yêu cầu chia di dản thừa kế, thời điểm cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 39 (năm 2001) ụ Chử Thị M sinh sống cùng vợ chồng bà Đào Thị H, khi đó á on ủa bà Đào Thị H hưa đủ 15 tuổi. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 quy định về người sử dụng đất đã không òn khái niệm hộ gia đình. Vì vậy, việc phần quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên hộ gia đình bà Đào Thị H ….. có quyền kê khai cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 39 là hưa phù hợp, hưa đảm ảo quyền lợi ủa á đương sự.
Theo bà Đào Thị H và ông Vũ Quang V, cụ Chử Thị M có chồng là cụ Vũ Xuân A (đã hết) và ó 06 người con gồm: Vũ Xuân D, Vũ Bí h H, Vũ Quang V, Vũ Kim H, Vũ Đức D (đã hết năm 2011 ó on là Vũ Minh H và Vũ Quốc H), Vũ Minh Q (không có vợ con, đã hết năm 2015). Vì vậy, cần tuyên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Chử Thị M và những người thừa kế thế vị của ông Vũ Đức D cùng những người là thành viên hộ gia đình (trên 15 tuổi) của cụ Chử Thị M, tại thời điểm hộ cụ Chử Thị M được cấp GCNQSDĐ được quyền quản lý sử dụng tài sản và có quyền nghĩa vụ kê khai cấp GCNQSDĐ theo quy định pháp luật về đất đai. Nếu những người những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Chử Thị M và những người thừa kế thế vị của ông Vũ Đức D có tranh chấp về chia di sản thừa kế thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí sơ thẩm: Tòa án ấp sơ thẩm áp dụng thiếu điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí trong tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; không tuyên nghĩa vụ liên đới chịu án phí sơ thẩm đối với nguyên đơn là hưa đầy đủ. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạ h là ó ăn ứ; tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng áo về nghĩa vụ trả nợ và tại thời điểm xét xử phúc thẩm, bị đơn đã đủ 60 tuổi và xin miễn toàn bộ án phí; do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị đơn.
Từ những phân tí h và đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không ó ăn ứ để hấp nhận kháng áo ủa à Đào Thị H. Tuy nhiên, do ấp sơ thẩm ó một số thiếu sót và những thiếu sót này ó thể khắ phụ đượ tại ấp phú thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không hấp nhận kháng áo ủa à Đào Thị H nhưng ần phải sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 27 2025 DS-ST ngày 27-9-2025 ủa Tòa án nhân dân khu vự 1 - Lạng Sơn theo nội dung như đã phân tí h ở trên.
Về án phí phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là bà Đào Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là ó ăn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn ứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đào Thị H; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 27 2025 DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 ủa Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, ụ thể như sau:
Căn ứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 148; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 166; Điều 244; Điều 293; khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn ứ á Điều 117; 124; 131; 275; 280; 401, 407; 357; 463; 464; 466; 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn ứ điểm d khoản 2 Điều 106; Điều 195 của Luật Đất đai năm 2013 và các Điều 4; 133; 137; 141; 148; 152 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn ứ khoản 3, 4, 5 Điều 26, điểm b khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 29; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Kim V đối với bà Đào Thị H, cụ thể:
Buộc bà Đào Thị H phải trả cho ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K tổng số tiền là 5.066.383.562 (năm tỷ không trăm sáu mươi sáu triệu a trăm tám mươi a nghìn năm trăm sáu mươi hai) đồng; bao gồm: nợ gốc là 4.050.000.000 đồng và 1.016.383.562 đồng nợ lãi, tính từ ngày 26-3-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 27-9-2025.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, bà Đào Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đào Thị H:
2.1 Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Chử Thị M, ông Vũ Quang V, bà Đào Thị H, anh Vũ Quang Đ (Minh Q) và chị Vũ Quỳnh T với ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K; đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng số 1 tỉnh Lạng Sơn vào ngày 24-7-2019 là vô hiệu.
2.2. Giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu:
Do cụ Chử Thị M đã hết năm 2020, nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Chử Thị M và những người thừa kế thế vị, cùng những người là thành viên hộ gia đình (trên 15 tuổi) của cụ Chử Thị M tại thời điểm hộ cụ Chử Thị M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm các ông bà: Vũ Xuân D, Vũ Bí h H, Vũ Quang V, Vũ Kim H, Vũ Minh H và Vũ Quốc H (là người thừa kế thế vị của ông Vũ Đức D), Đào Thị H; được quyền quản lý sử dụng thửa đất số 39, tờ ản đồ số 28 phường T, tỉnh Lạng Sơn và tài sản gắn liền với đất; địa hỉ: Số 105, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn và có quyền nghĩa vụ kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai. Thửa đất nói trên đã đượ Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) tỉnh Lạng Sơn ấp cho ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn là ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K ó nghĩa vụ liên đới chịu toàn bộ chi phí tố tụng với tổng số tiền là 12.144.000 (mười hai triệu một trăm ốn mươi ốn nghìn) đồng; bao gồm: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và hi phí đo đạc thửa đất tranh chấp; xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ số tiền nói trên.
4. Về án phí:
4.1 Án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K ó nghĩa vụ liên đới chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, sung Ngân sá h Nhà nước; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông Hoàng Kim V và bà Trình Thị K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn), theo Biên lai số 0000620 ngày 27-3-2025.
Bị đơn à Đào Thị H được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
4.2. Án phí phúc thẩm: Bà Đào Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
5. Trường hợp Bản án đượ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ưỡng chế thi hành án theo quy định tại á Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm TANDTC; - Viện phúc thẩm VKSNDTC; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - TAND khu vực 1 Lạng Sơn; - VKSND khu vực 1 Lạng Sơn; - THADS tỉnh Lạng Sơn; - Đương sự; - Người BVQ&LIHP của đương sự; - Lưu: HS; Tòa DS; HCTP, P. GĐKT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thùy |