- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vô ý làm chết người - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Dg Văn S phạm tội “ Vô ý làm chết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 128 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2025/HSST Ngày: 29/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phương Văn Chính.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Văn Nhân.
2/ Bà Trần Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2
- Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thạnh Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 59/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dg Văn S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970.
Tên gọi khác: Không; nơi sinh: Cần Thơ.
Nơi cư trú: số 35A/2, khu vực 3, phường HT, quận CR, thành phố Cần Thơ (nay là số 35A/2, khu vực 3, phường CR, thành phố Cần Thơ).
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn (văn hóa): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Q tịch: Việt Nam; con ông Dg Văn C, sinh năm 1946 (chết) và bà Trần Thị K, sinh năm 1953 (sống); Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1990; Vợ: Huỳnh Thị Cẩm L, sinh năm 1971; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2007;
- Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại tòa)
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Thúy Ph – Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ.
Đại diện bị hại: Ông Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1992 và bà Đào Kim Hg, sinh năm 1993. (vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực Tân Hưng, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực Tân Hưng, phường Phước Thới, thành phố Cần Thơ).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đoàn Thanh Dg, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Mỹ Đức, xã Thiên Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp Mỹ Đức, xã Thiên Mỹ, thành phố Cần Thơ).
2/ Ông Lê Văn Ng, sinh năm 1967. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 48E22 đường số 48, số nhà 22, phường Phú Thứ, quận CR, thành phố Cần Thơ (nay là Số 48E22 đường số 48, số nhà 22, phường Hưng Phú thành phố Cần Thơ).
3/ Ông Lê Văn V, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Địa chỉ: xã Đông Phước A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (nay là xã Đông Phước, thành phố Cần Thơ)
4/ Ông V Hồng Tr, sinh năm 1982. (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Rồng, xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là Xóm Rồng, xã Nghi Thiết, tỉnh Nghệ An).
5/ Sở giao thông vận tải thành phố Cần Thơ (nay là Sở xây dựng và giao thông). (vắng mặt)
Người làm chứng:
1/ Em Nguyễn Tuấn T, sinh năm 2014.
Người giám hộ cho T có bà Đào K Hg, sinh năm 1993. (vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực Tân Hưng, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực Tân Hưng, phường Phước Thới, thành phố Cần Thơ).
2/ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1964. (vắng mặt)
Địa chỉ: khu vực Tân Hưng, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực Tân Hưng, phường Phước Thới, thành phố Cần Thơ).
3/ Em Lý Anh Tn, năm 2007. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Phước Hòa, xã Phước Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
4/ Ông Nguyễn Văn NN, sinh năm 1978. (có mặt)
Địa chỉ: ấp Đông An, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là ấp Đông An, xã Phú Hòa, tỉnh An Giang).
5/ Ông Trương Bá Q, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: Khối Tr Hòa 2, phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (nay là Khối Tr Hòa 2, phường Lê Mao, tỉnh Nghệ An).
6/ Ông Chu Văn Dg, sinh năm 1991. (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 8, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (nay là Xóm 8, xã Diễn Lâm, tỉnh Nghệ An).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 14/5/2024, Dg Văn S điều khiển xe cải tiến (xe bánh xích cao su, không biển số) kéo cọc theo thoả Tn, công việc là kéo cọc từ nơi tập kết đến điểm thi công hạng mục cống phục vụ cho việc xây dựng hệ thống thoát nước dọc, thoát nước ngang thuộc công trình đường vành đai phía tây thuộc khu vực Tân Hưng, phường Trường Lạc, quận Môn. Khi đang kéo cọc thì S phát hiện có hai cháu Nguyễn Tuấn Giáp (sinh năm 2013) và Nguyễn Tuấn T (sinh năm 2014) ra xe ngồi chơi thì S có la và đuổi hai cháu về. Nhưng sau đó, S không để ý các cháu quay trở ra lại lúc nào, khi S điều khiển để xe di chuyển thì cháu Giáp bị té ngã xuống bị bánh xe cán trúng, hậu quả cháu Giáp tử vong tại hiện trường.
Kết luận giám định tử thi số 70/KLGĐTT-PC09 ngày 29/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ kết luận: nạn nhân Nguyễn Tuấn Giáp tử vong do dập não, xuất huyết não, sau chấn thương sọ não nặng.
Kết luận giám định số 18/KLGĐ-KTHS-Sv ngày 31/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ kết luận: mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Tuấn Giáp thuộc nhóm máu B, vết máu ghi thu tại lòng đường nơi nạn nhân Nguyễn Tuấn Giáp là máu người, thuộc nhóm máu B, trùng với nhóm máu của nạn nhân Nguyễn Tuấn Giáp.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện xác định tại hiện trường là đoạn đường cát phục vụ công trình thuộc phạm vi công trình, khám nghiệm phương tiện là loại xe cải tiến (xe bánh xích cao su, không biển số).
Qua xác minh hiện trường là đoạn đường cát để dẫn vào công trình, không phải đường dân sinh mà chỉ phục vụ cho công trình. Khi mở đường do Công ty 471 thực hiện, có rào chắn, biển báo nhưng sau đó khi giao lại cho Công ty Hoàng Ân để thực hiện hạng mục hệ thống thoát nước dọc, thoát nước ngang theo hợp đồng thì đến thời điểm xảy ra vụ việc rào chắn, dây văng đã bị mất.
Qua điều tra và thu thập các tài liệu, hợp đồng có liên quan thể hiện: Công trình đường vành đai phía tây do Sở Giao thông vận tải thành phố Cần Thơ là chủ đầu tư, nhà thầu chính là Liên danh Công ty cổ phần 471 (địa chỉ: số 9 Trần Nhật Duật, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) – Công ty cổ phần 10 (địa chỉ: xóm Thắng Lợi, xã An Hưng, huyện An Dg, thành phố Hải Phòng) – Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp An Đông (địa chỉ: Lô E56, khu đô thị Đại K, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội), trong đó Công ty cổ phần 471 đứng đầu liên danh. Giữa Công ty cổ phần 471 ký hợp đồng với Công ty TNHH đầu tư xây dựng thương mại Hoàng Ân do ông Lê Văn Ng là giám đốc, địa chỉ: E4-22, đường số 48, Khu dân cư 586, phường Phú Thứ, quận CR, thành phố Cần Thơ thi công gói thầu phụ là thi công toàn bộ phần tuyến chính hệ thống thoát nước dọc, thoát nước ngang từ các đoạn Km7+6060 – Km7+190 – Km7+350 – Km8+080 (bao gồm trái tuyến và phải tuyến) là một phần thuộc gói 17 Thi công xây dựng đường và các cầu (đoạn Km06+080 – Km09+340) – Dự án Đường vành đai phía tây thành phố Cần Thơ (nối Q lộ 91 và Q lộ 61C). Ông Ng giao lại cho con là ông Lê Văn V thi công hạng mục làm cống đoạn qua khu vực Tân Hưng, phường Trường Lạc, quận Ô Môn. V thuê lại Đoàn Thanh Dg để vận chuyển các cọc trụ ra điểm tập kết thi công nhưng khi thi công thì máy kéo cọc của V bị hư nên V thuê Dg Văn S (sinh năm 1970, ĐKTT: khu vực 3, phường HT, quận CR, thành phố Cần Thơ) đến sửa nhưng không sửa được. Do đó, V đã thuê ông S đưa phương tiện của ông S đến công trình để vận hành việc kéo cọc với giá thuê 200.000 đồng/ngày.
Tại văn bản trả lời của Sở Giao thông vận tải thành phố Cần Thơ theo Công văn số 2239/SGTVT-TTQLHTGTĐB ngày 31/7/2024 của Sở GTVT Thành phố Cần Thơ phúc đáp CQCSĐT với nội dung: Trong quá trình thi công Công ty Cổ phần 471 có thuê Công ty Hoàng An cung cấp nhân công và thiết bị để thi công hệ thống cống dọc, cống ngang (lý trình Km7+060 - Km7+190; Km7+350 - Km8+080), đây là hợp đồng riêng giữa Công ty Cổ phần 471 và Công ty Hoàng Ân. Đoạn tuyến đường công vụ tiếp giáp đường dân sinh hiện hữu dọc kênh Xẻo Khế vào bên trong (đoạn đường cát cho xe vận chuyển dẫn vào công trình) là phần đất thuộc phạm vi công trình. Đối với thiết bị vận chuyển cọc là thiết bị tự chế do Nhà thầu bổ sung vào công trình, thiết bị này không phải là xe máy chuyên dùng nên không thuộc đối tượng đăng ký, đăng kiểm theo quy định, thiết bị này chỉ phục vụ thi công trong phạm vi nội bộ khu vực thi công của công trình, không tham gia giao thông ngoài phạm vi công trình thi công. Không phải là xe máy chuyên dùng nên không được quy định về giấy phép lái xe hay chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.
Đối với Dg Văn S điều khiển phương tiện là xe cải tiến (xe bánh xích cao su, không biển số) tại đoạn đường phục vụ công trình thi công, không chú ý quan sát, phương tiện không qua kiểm định, không đảm bảo các biện pháp an toàn khi điều khiển phương tiện, dẫn đến hậu quả gây ra vụ tai nạn làm cháu Nguyễn Tuấn Giáp tử vong. Hành vi của Dg Văn S đủ yếu tố cấu thành tội Vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.
Đối với các pháp nhân và cá nhân có liên quan khác gồm: Công ty 471, Công ty Hoàng Ân, ông Lê Văn Ng, ông Lê Văn V, ông Đoàn Thanh Dg: nhận thấy việc ông Ng và V có hợp đồng thi công đối với một phần trong gói thầu của công ty 471 với chủ đầu tư là Sở GTVT thành phố Cần Thơ. Đoạn đường thi công là đường nội bộ của công trình để vận chuyển cọc từ ngoài công trình vào nơi thi công của công ty do ông Ng và V (không phải nơi công ty đang thi công). Việc V thuê lại Dg và Dg thuê lại S là các giao dịch dân sự (khoán) về việc vận chuyển và S là người chịu trách nhiệm vận chuyển cọc từ ngoài công trình vào nơi thi công, S sử dụng phương tiện tự chế để vận chuyển. Các bên đã có thoả Tn về yêu cầu đảm bảo an toàn khi thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ được chuyển giao theo thoả Tn của các bên. Tuy nhiên, các đối tượng Ng, V, Dg có trách nhiệm liên đới trong vụ tai nạn do S gây ra nhưng xét về yếu tố vi phạm về an toàn trong xây dựng và lao động thì không đủ cơ sở để xử lý đối với các cá nhân này.
Vật chứng: 01 (một) xe cải tiến (xe bánh xích cao su, không biển số). Hiện đang giao cho chủ sở hữu quản lý.
Trách nhiệm dân sự: hiện nay phía Dg Văn S và đại diện đơn vị thi công đã thoả Tn bồi thường cho phía gia đình nạn nhân Nguyễn Tuấn Giáp số tiền 140.000.000 đồng, được phía gia đình nạn nhân có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại Cáo trạng số 68/CT-VKSOM ngày 28 tháng 5 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã truy tố và để xét xử bị cáo Dg Văn S về tội Vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Qua phân tích những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 128; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Dg Văn S phạm tội vô ý làm chết người.
Xử phạt Dg Văn S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và bị hại cũng không có yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
Luật sư Hg trình bày quan điểm: Thống nhất với tội danh và điều luật của Viện kiểm sát truy tố về tội vô ý làm chết người, thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo Dg Văn S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Thực tế bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ của bị cáo là Huỳnh Thị Cẩm L đang bệnh, bị cáo là người lao động chính. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ô Môn, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo Dg Văn S tại phiên tòa; lời khai của bị cáo thể hiện tại các Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 14/5/2024, Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/5/2024; Kết luận giám định thi thể số 70/KLGĐTT-PC09 ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Phòng kỹ thuật Công an thành phố Cần Thơ kết luận nạn nhân Nguyễn Tuấn Giáp, sinh năm 2013, tử vong do dập não và xuất huyết não, sau chấn thương sọ não nặng; biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ và cơ sở kết luận:
Do bị cáo Dg Văn S điều khiển xe cải tiến (xe bánh xích cao su, không biển số) kéo cọc từ nơi tập kết đến điểm thi công hạng mục cống phục vụ cho việc xây dựng hệ thống thoát nước dọc, thoát nước ngang thuộc công trình đường vành đai phía tây thuộc khu vực Tân Hưng, phường Trường Lạc, quận Môn. Khi đang kéo cọc thì S phát hiện có hai cháu Nguyễn Tuấn Giáp (sinh năm 2013) và Nguyễn Tuấn T (sinh năm 2014) ra xe ngồi chơi thì S có la và đuổi hai cháu về. Nhưng sau đó, S không để ý các cháu quay trở ra lại lúc nào, khi S điều khiển để xe di chuyển thì cháu Giáp bị té ngã xuống bị bánh xe cán trúng, hậu quả cháu Giáp tử vong tại hiện trường.
Hành vi của bị cáo là vô ý, nhưng đã vi phạm nghiêm trọng các quy định về an toàn khi vận hành phương tiện, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng – làm chết người.
Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn cũng như quan điểm luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo là công dân Việt Nam, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bản thân gây ra. Tính mạng, sức khỏe của con người là vô giá được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm do cố ý hay vô ý đều bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị. Nguyên nhân Nguyễn Tuấn Giáp chết là do lỗi vô ý quá tự tin của bị cáo Dg Văn S.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại, gia đình bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cơ sở.
Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài hành vi lần này thì bị cáo chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào xử lý về hành vi vi phạm gì. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú quản lý và giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tạo điều kiện cho bị cáo làm việc, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại xong, đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm. Theo đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa nêu trên là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Dg Văn S phạm tội “ Vô ý làm chết người”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Dg Văn S 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/7/2025).
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường CR, thành phố Cần Thơ theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bị cáo. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dg Văn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tn thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Nhân Trần Thị Thu
Phương Văn Chính
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - VKSNDKV2 - Cần Thơ; - Phòng THADS KV2 – Cần Thơ; - Công an TP. Cần Thơ; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phương Văn Chính |