- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Phú K - phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (điều 295 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Phú K phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 17/2025/HSST Ngày: 17/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Vũ Xuân Tuất
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 344/2024/TLST-HS ngày 18/12/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo:
LÊ PHÚ K (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1977 tại: Quảng Trị. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: Khu phố 3, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lái xe. Học vấn: 10/12. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Lê Phú S và bà Lê Thị H (đều đã chết). Bị cáo cón vợ: Nguyễn Minh D, sinh năm 1986 và 2 con. Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
2. Người tham gia tố tụng:
2.1. Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị Út T, sinh năm 1988 (Vợ của bị hại). Địa chỉ: Ấp A, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
2.2 Người làm chứng:
+ Chị Trịnh Thị D, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
+ Anh Hồ Quang T, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
+ Anh Đặng Tuấn A, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
+ Anh Trần Đồng M, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Thửa đất số 1609, tờ bản đồ số 42 bản đồ địa chính xã Sông Trầu có diện tích 9.119 m2 tại ấp 4, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu của ông Lê Phú Tr và bà Nguyễn Thị Kh (vợ ông Tr), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Từ năm 2005, ông Tr xây dựng nhà yến và nhà ở cho công nhân trên thửa đất trên. Đầu năm 2023, ông Tr giao lại cho Lê Phú K (em ruột ông Tr) quản lý, sử dụng thửa đất trên cùng tài sản trên đất. Tháng 6/2023, K có nhu cầu xây dựng cải tạo lại nhà yến nên đã thuê anh Trần Hồng M, chị Trịnh Thị D (vợ anh M), anh Trần Văn H và anh T (không rõ lai lịch) đến xây dựng cải tạo nhà cho K và thỏa thuận với nhau K sẽ trả lương theo ngày, cụ thể: K trả cho anh H và anh Mao 500.000 đồng/ngày, trả cho chị D và anh T 370.000 đồng/ngày. Sau đó, K mượn máy (cối) trộn bê tông đã qua sử dụng của anh T (không rõ lai lịch) để giao cho anh H, anh M, chị D và anh T sử dụng trộn bê tông để sửa nhà. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng lao động, K không trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động như ủng, găng tay cao su, quần áo bảo hộ…để đảm bảo an toàn cho người lao động và không kiểm tra tình trạng an toàn của máy trộn bê tông trước khi đưa vào sử dụng nên vào lúc 16 giờ 40 phút ngày 04/8/2023, trong lúc trộn bê tông để cán đường đi trong sân, anh H cầm vào vành máy trộn bê tông thì bị điện giật làm anh H ngã xuống đất và được mọi người đưa đến Trung tâm Y tế huyện Trảng Bom cấp cứu nhưng anh H đã tử vong.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT đã phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Điện lực Trảng Bom tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ 01 máy trộn bê tông và 01 cuộn dây điện lõi đồng loại ø 2,5, dài 10m và ghi nhận hiện trường như sau:
“- Điều kiện và khí hậu, ánh sáng: Ban đêm, ánh sáng đèn điện.
Tình trạng hiện trường khi chúng tôi có mặt: Đã xáo trộn.
Hiện trường và quá trình khám nghiệm:
Nơi tiến hành khám nghiệm hiện trường tại tổ 7, ấp 4, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai với các hướng tiếp giáp sau:
- Hướng Đông giáp với đường đi
- Hướng Tây giáp với bãi đất trống.
- Hướng Nam giáp với bãi đất trống.
- Hướng Bắc giáp với đường đi.
Hiện trường tiến hành khám nghiệm là nhà đang xây với kích thước 7m x 20m. Tại phía trước thuộc hướng Bắc của nhà đang xây ghi nhận đây là hiện trường có đất, đá, xi măng là vận dụng dùng để xây nhà
- Tại vị trí mép đường đi, cách tường phía Đông 3m, cách mép phía Tây 4m, ghi nhận có một máy trộn bê tông làm bằng sắt kích thức 1,8m x1m.
- Tại vị trí góc Đông Bắc của nhà đang xây ghi nhận có 01 ổ điện cao 2m, có nguồn điện đi từ trụ điện vào (1).
- Tại vị trí sát với mép nhà đang xây ghi nhận có 01 ổ điện có nguồn điện đi từ ổ điện số (1) vào (2).
- Tại vị trí từ ổ điện số (2) ghi nhận có dây điện nối nguồn điện vào máy trộn xi măng.
- Tại vị trí phía Đông của máy trộn xi măng ghi nhận đây là vị trí ông Lê Phú K phát hiện nạn nhân Nguyễn Văn H bị điện giật.
- Dưới nền đất xung quanh máy trộn xi măng ghi nhận ẩm ướt.
* Điện lực huyện Trảng Bom tham gia khám nghiệm ghi nhận như sau:
- Sau khi mở nguồn điện ở cầu giao điện số (1) ghi nhận có nguồn điện 220V.
- Đo tại vị trí mô tơ điện của máy trộn xi măng và toàn thân máy trộn xi măng ghi nhận có nguồn điện 220V.
- Tại vị trí mô tơ của máy trộn xi măng ghi nhận bị hở điện và đo được nguồn điện 220V.
- Cầu giao điện của hộ gia đình sau đồng hồ phụ của trạm điện Phú Trung
Tại hiện trường ghi nhận không có camera”.
Tại Văn bản số 1903/ĐLTB-KHKT ngày 16/10/2023 của Điện lực Trảng Bom, xác định nguyên nhân anh Trần Văn Hải bị điện giật như sau:
“- Anh Trần Văn H bị điện giật là do máy trộn bê tông không đảm bảo an toàn (điện áp tại thân vỏ máy trộn bê tông đo được 220V).
Do máy trộn bê tông bị nhiễm điện nên khi anh Trần Văn H tiếp xúc với máy trộn bê tông dẫn đến bị điện giật”.
Tại Văn bản số số 216/CV-TTr ngày 23/11/2023 của Thanh tra Sở Lao động và Thương binh và Xã hội, tỉnh Đồng Nai kết luận như sau:
“Người sử dụng lao động là ông Lê Phú K chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, trong quá trình tổ chức thi công xây dựng công trình đã có những vi phạm như sau:
- Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại (điều khiển máy trộn bê tông tự do kiểu lật đổ). Hành vi này vi phạm điều 23 Luật an toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 25/2022/TT-BLĐTBXH ngày 13/11/2022 của Bộ Lao động - Thương binh xã hội (khoản 27, mục XXII.3. Điều khiển máy, thiết bị thi công, phụ lục số 1- Danh mục phương tiện bảo vệ cá nhân trang cấp cho người lao động hành nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại).
Đưa máy, thiết bị không đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động vào sử dụng (máy trộn bê tông tự do kiểu lật đổ bị nhiễm điện, do dòng điện rò từ mô tơ điện ra các bộ phận kim loại khác của máy), nên trong quá trình điều khiển máy trộn bê tông, ông Trần Văn H tiếp xúc trực tiếp với dòng điện rò, dẫn đến bị điện giật làm ông H tử vong. Hành vi này vi phạm khoản 2 Điều 16 Luật an toàn, Vệ sinh lao động năm 2015”.
Cơ quan CSĐT đã trưng cầu Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng III thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Bộ Khoa học và Công nghệ giám định tình trạng an toàn kỹ thuật điện máy trộn bê tông trong vụ tai nạn. Tại Thông báo kết quả giám định số 00012/N5.23/TD ngày 06/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng III thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Bộ Khoa học và Công nghệ, thành phố Hồ Chí Minh xác định như sau:
“Mẫu máy trộn bê tông nêu trên đã được thử nghiệm và đánh giá các yêu cầu về bảo vệ chống điện giật theo tiêu chuẩn TCVN 12669-1:2020- An toàn máy-thiết bị điện của máy-phần 1: Yêu cầu chung. Kết quả đánh giá cho thấy thiết bị điện không phù hợp với yêu cầu về bảo vệ chống điện giật theo tiêu chuẩn TCVN 12669-1:2020. Cụ thể: không đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ chống điện giật quy định tại điều 5.2 và 6.1 của tiêu chuẩn TCVN 12669-1:2020”
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 332/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Trung tâm pháp y Đồng Nai, kết luận như sau:
“ 2. Kết luận:
- Kết luận nguyên nhân chết:
+ Điện giật.
- Kết luận khác:
+ Độc chất: không tìm thấy các độc chất (chất độc bay hơi và chất độc hữu cơ trong mẫu máu).
+ Vi thể:
* Tổn thương cơ tim hoại tử dạng tăng co.
* Tổn thương phế nang lan tỏa.
* Các tạng xung huyết”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Phú K về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại khoản 1 Điều 295 BLHS để xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra, Lê Phú K có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại.
2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 máy trộn bê tông (đã qua sử dụng) và 01 cuộn dây điện lõi đồng loại ø 2,5, dài 10m, Lê Phú K mượn của người tên T, không rõ nhân thân lai lịch, đề nghị Tòa tuyên trả lại cho K để K trả lại cho Tấn.
3, Về trách nhiệm dân sự:
- Lê Phú K đã bồi thường chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại số tiền 80.000.000 đồng, gia đình bị hại đã có đơn bãi nại và cam kết không thắc mắc khiếu nại gì khác về dân sự.
4.Truy tố:
4.1. Tại cáo trạng số: 336/CT-VKS-TB ngày 30/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Lê Phú K về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự.
4.2. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 295, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt: Bị cáo Lê Phú K số tiền 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng. Về dân sự: Đã giải quyết xong đề nghị tòa không đề cập. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm của mình như đã nêu ở trên, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 04/8/2023, Lê Phú K thuê anh Trần Văn H sửa nhà cho K tại thửa đất số 1609, tờ bản đồ số 42 tại: ấp 4, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, do K không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động và đưa máy trộn bê tông không đảm bảo an toàn về bảo vệ chống điện giật dẫn đến dòng điện bị rò, toàn bộ máy trộn bê tông nhiễm điện nên khi anh H điều khiển máy trộn bê tông thì bị điện giật dẫn đến tử vong.
Về trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường và có đơn bãi nại cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, do đó cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp thể hiện sự nhân đạo của pháp luật
Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về dân sự: Đã giải quyết xong, tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì khác nên HĐXX không phải giải quyết.
Đối với ông Lê Phú Tr là chủ sở hữu thửa đất số 1609, tờ bản đồ số 42, bản đồ địa chính xã S, ông Tr đã giao cho K quản lý, sử dụng thửa đất trên và tài sản trên đất. Việc K sửa nhà và thuê người sửa nhà ông Tr không biết và không liên quan nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Tuyên bố bị cáo Lê Phú K phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
+ Xử phạt bị cáo số tiền: 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng)
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Phú K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; đại diện bị hại; - VKSND tỉnh, VKSND huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Quyên |