- Tranh chấp gì? án hình sự — "17 HS BA XUNG TUẤN - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 29-4-2025. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trư ng Thị Ng c .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn S n.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh S n và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N6– Phân trại khu vực N, Tòa án nhân dân huyện Ninh S n mở phiên tòa xét xử s thẩm công khai, theo hình th c trực tuy n vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2025, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
H và tên: XUNG T, sinh năm 1994 tại Ninh Thuận.
N i cư trú: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ h c vấn: 0/12; Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Xung T (Đã ch t) và bà Trần Thị Thu C, sinh năm 1958; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Tại Bản án số 05/2015/HSST ngày 03/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Xung T142 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/4/2018 nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N6– Phân trại khu vực N, tỉnh Ninh ThuậnBị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần theo Lệnh trích xuất số 09/2025/TA-LTX ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị hại: Nguyễn Thị Kim T2sinh năm 1996 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
- Ngư i có quy n l i và nghĩa v liên quan đ n v án:
1/ Đặng Thị Như Q năm 1999 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
2/ Nguyễn Thị Thảo Nsinh năm 1988 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
3/ Đặng Văn T3sinh năm 1979 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
4/ Nguyễn Hồng B Hsinh năm 1993 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
5/ Nguyễn Minh T4sinh năm 1994 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
6/ Xung Thị T5sinh năm 1999 – Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
7/ Xung Thị L năm 1980 – Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
8/ Trần Thị Thu C1 năm 1958 – Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
Cùng địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
- Ngư i làm chứng:
1/ Tou Prong Hàn Khánh Dsinh năm 2006 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: 183 Krăng Go, xã Pró, huyện Đ n Dư ng, tỉnh Lâm Đồng.
2/ Tou Prong Hàn Thuỳ, sinh năm 1987 – Đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: A, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 13 giờ 35 phút ngày 03/09/2024, chị Nguyễn Thị Kim T1 (sinh năm 1996; trú: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) điều khiển xe mô tô biển số 85 1-186.29 (Giấy ch ng nhận đăng ký xe đ ng tên anh Nguyễn Minh T2 năm 1994, trú: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận– chồng chị T1), chở theo chị Đặng Thị Như Q1 (sinh năm 1999) và chị Nguyễn Thị Thảo N (sinh năm 1988), cùng trú : Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đ n suối giáp ngh a trang L1(thuộc thôn L, xã L, huyện N) để bắt ốc. Khi đ n n i, Q2 01 chi c điện thoại OPPO A58 màu xanh ng c, Ncất chi c điện thoại Samsung Galaxy A11 màu xanh vào trong cốp xe của T2rồi cả ba cùng xuống bắt ốc.
Đ n khoảng 14 giờ cùng ngày, X T1đi bộ vào ngh a trang tìm ki m bánh k o ăn, nhìn thấy xe mô tô biển số 85 1-186.29 không có người trông gi nên nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện hành vi phạm tội, T1lấy trong túi quần ra 01 chi c chìa khóa (nhặt được trước đó) cắm vào khóa xe chị T1, n máy và điều khiển xe chạy lên tỉnh Lâm Đồng tìm người tiêu thụ. Trên đường đi, T1dừng lại mở cốp xe thấy 02 chi c điện thoại và 01 Giấy đăng ký xe mô tô nên lấy luôn, rồi ti p tục điều khiển xe đ n nhà chị Tou P Hàn T6(sinh năm 1987, trú: xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) ch i. Tại đây, T1nhờ con trai của chị T7là cháu T8Prong Hàn Khánh D (sinh năm 2006) chở đ n tiệm cầm đồ C12 Mobile của chị Nguyễn Hồng B H(sinh năm 1993, trú: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) cầm cố chi c điện thoại Samsung được 500.000 đồng để tiêu xài. Đ n ngày hôm sau, T1chuộc lại chi c điện thoại Svà thanh toán cho chị H đồng, rồi T1mang chi c điện thoại OPPO đ n tiệm điện thoại (không nhớ tên, địa chỉ) nhờ mở khóa, rồi cho một người bạn tên T1(không bi t r lai lịch) mượn để cầm cố cho người khác (không xác định được tên, địa chỉ).
Ngày 06/9/2024, T1nhờ chị Xung Thị T3 (sinh năm 1999, trú: Thôn L, xã L, huyện N – cháu gái của T1) mang xe mô tô biển số 85 1-186.29 đ n bán cho ông Đặng Văn T4(sinh năm 1979, trú: Thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng) được 5.000.000 đồng, sau đó T1cho T51.200.000 đồng, dùng 2.540.000 đồng chuộc lại chi c điện thoại OPPO mà người bạn tên T1đã cầm cố, T1tiêu xài cá nhân h t 960.000 đồng, còn lại 300.000 đồng để trong người đã bị thu gi .
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 28/KLTS ngày 06/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện N:
+ 01 điện thoại di động hiệu OPPO A58 màu xanh ngọc, mua vào tháng 7/2024 đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường có giá 2.500.000 đồng.
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 màu xanh, mua vào năm 2018 đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường có giá 800.000 đồng.
Tổng cộng: 3.300.000 đồng.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KLTS ngày 06/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện N: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Sirius, màu xanh bạc, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường, đăng ký lần đầu ngày 20/7/2016, có giá 6.000.000 đồng.
T ng giá trị tài sản Xung T1trộm cắp là
đồng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa s thẩm, không ai có ý ki n gì đối với các K t luận định giá.
Về thu giữ, tạm giữ đồ vật; xử lý vật chứng:
- Tạm gi , sau đó trả lại tài sản cho các chủ sở h u, gồm: Chị Nguyễn Thị K T201 xe mô tô biển số 85 1-186.29 và 01 Giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô số 006343; chị Đặng Thị N1 Q01 điện thoại di động hiệu OPPO A58 màu xanh ng c. Chị T2chị Q3 nhận lại tài sản và không ý ki n gì.
- Thu gi 300.000 đồng của X T1có nguồn gốc từ việc bán chi c xe trộm cắp cho ông Đặng Văn T5 có, hiện đang tạm gi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận. Tại phiên tòa s thẩm, bị cáo xin nhận lại số tiền này.
- Đối với số tiền 1.200.000 đồng của chị Xung Thị T3 được Xung T1cho, có nguồn gốc từ việc T1bán chi c xe trộm cắp cho ông Đặng Văn T5 có nhưng T1không yêu cầu T5trả lại.
- Đối với chi c điện thoai Samsung Galaxy A11 màu xanh của chị Nguyễn Thị Thảo Nbị X T1trộm cắp, hiện không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Nguyễn Thị Thảo N2 nhận 800.000 đồng tiền bồi thường chi c điện thoại Samsung Galaxy A11 màu xanh.
Ông Đặng Văn T6 nhận lại số tiền 5.000.000 đồng mà ông b ra mua xe mô tô biển số 85 1-186.29 do T1 trộm cắp. Còn đối với số tiền 560.000 đồng ông T3b ra sửa ch a, tu b sau khi mua xe mô tô biển số 85 1-186.29 thì ông T3không có yêu cầu gì.
Toàn bộ số tiền bồi thường cho chị N3 ông T3là do người nhà của bị cáo (gồm Xung Thị LXung Thị T5Trần Thị Thu C tự nguyện bồi thường thay và không yêu cầu bị cáo hoàn trả.
Cáo trạng số 57/CT-VKS-NS ngày 26-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo X T1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa s thẩm, Kiểm sát viên sau khi phân tích hành vi, nhân thân, m c độ phạm tội của bị cáo, gi nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử s thẩm:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo X T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 12 đ n 18 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự:
- Thu gi 300.000 đồng của X T1có nguồn gốc từ việc bán xe trộm cắp cho ông Đặng Văn T5 có, đang tạm gi tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận, hiện đã giải quy t xong trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại số tiền này cho bị cáo.
- Tạm gi , sau đó trả lại các tài sản cho các chủ sở h u gồm: Chị Nguyễn Thị K T201 xe mô tô biển số 85 1-186.29 và 01 Giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô số 006343; chị Đặng Thị N1 Q01 điện thoại di động hiệu OPPO A58 màu xanh ng c. Chị T2chị Q3 nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
- Đối với chi c điện thoai Samsung Galaxy A11 màu xanh của chị Nguyễn Thị Thảo Nbị X T1trộm cắp, hiện không thu hồi được và đã được bồi thường giá trị nên không đề cập việc xử lý.
- Số tiền 1.200.000 đồng của chị T10 T1cho, có nguồn gốc từ việc Xung T1bán chi c xe trộm cắp cho ông Đặng Văn T5 có nhưng T1không yêu cầu trả lại nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự s thẩm.
Sau khi nghe luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo bi t hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử s thẩm giảm nh hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quy t định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh S n, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý ki n, khi u nại về hành vi, quy t định của C quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của C quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xử lý về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa s thẩm, nh ng người làm ch ng và một số người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đ n vụ án vắng mặt nhưng xét thấy nh ng sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn c Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử s thẩm vẫn ti n hành xét xử vụ án.
Qua xét h i công khai tại phiên tòa s thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh S n đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa s thẩm phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, truy tố, với lời khai của nh ng người tham gia tố tụng khác, với các K t luận định giá, Bkiểm tra, xác định n i xảy ra vụ việc và các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ s vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 03/9/2024, tại ngh a trang thuộc thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận Xung T1 đã có hành vi lén lút trộm cắp chi c xe mô tô biển số 85 1-186.29 của chị Nguyễn Thị Kim T1. Thời điểm trộm cắp, trong cốp xe còn có 01 chi c điện thoại OPPO A58 màu xanh ng c, 01 chi c điện thoại Samsung Galaxy A11 màu xanh. T ng giá trị tài sản Xung T1 chi m đoạt là 9.300.000 đồng.
Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực ti p. Hành vi của bị cáo đủ y u tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự:
“Đi u 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Cáo trạng số: 57/CT-VKS-NS ngày 26-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo là có căn c , đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xác định tiền án, tiền sự, nhân thân của bị cáo:
Năm 2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 05/2015/HSST ngày 03/02/2015, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 15/4/2018 nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự trong bản án đã tuyên.
Tòa án nhân dân huyện Ninh S n đã 02 lần trả hồ s điều tra b sung cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh S n để nghị xác định lại nhân thân của T1Qua đó, Hội đồng xét xử s thẩm xét thấy:
- Bản thân bị cáo T1chưa thi hành h t các khoản phải bồi thường cho bị hại theo bản án đã tuyên.
- Không có tài liệu, ch ng c thể hiện gi a bị cáo và các bị hại có thoả thuận bằng văn bản hoặc các bị hại có văn bản yêu cầu C quan Thi hành án dân sự không ti p tục việc thi hành án, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.
- Dù đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng do chưa chấp hành xong các quy t định khác của bản án nên T1không thuộc trường hợp đư ng nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự, phù hợp với Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07-4-2017 và Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải đáp các vấn đề nghiệp vụ.
Từ nh ng phân tích trên, Hội đồng xét xử s thẩm xác định bị cáo T1vẫn còn tiền án trong vụ án này.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Do xác định bị cáo còn tiền án nên bị cáo thuộc trường hợp chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đây là tình ti t tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa s thẩm, bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị hại còn xin giảm nh hình phạt cho bị cáo. Đây là nh ng tình ti t giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo nhận th c r quyền sở h u của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Để đảm bảo được tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thi t. Xét thấy bị cáo X T1là người có nhân thân xấu, mặc dù hành vi trộm cắp lần này mang tính chất giản đ n nhưng qua đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không có ý th c cải tạo, tu dư ng, gây ảnh hưởng đ n trật tự, an toàn xã hội, b c xúc cho người dân, gây nên sự bất an trong quần chúng nhân dân. Do đó, để bị cáo nhận th c nghiêm túc được hành vi của mình và để làm tốt công tác răn đe, giáo dục ý th c trong cộng đồng, Hội đồng xét xử s thẩm xét thấy cần thi t phải áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra kh i xã hội một thời gian là phù hợp.
Hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Hội đồng xét xử s thẩm xét thấy: Xét m c độ phạm tội, hậu quả hành vi của bị cáo thì việc áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn đối với bị cáo đã đủ s c răn đe, nghiêm khắc nên không cần thi t phải phạt tiền b sung.
Trách nhiệm dân sự:
- Điện thoại Samsung Galaxy A11 màu xanh của chị Nguyễn Thị T7 N để trong cốp xe của chị T1 bị Xung T1trộm cắp, hiện không thu hồi được. Hiện gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị N4 tiền 800.000 đồng, chị N5 yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử s thẩm không xét đ n.
- Ông Đặng Văn T8 cầu bị cáo T1có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 5.000.000 đồng mà ông đã mua xe mô tô biển số 85 1-186.29. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông T3số tiền này, ông T3không yêu cầu gì thêm. Ngoài ra, số tiền 560.000 đồng ông T3đã dùng vào việc sửa ch a, tu b sau khi mua xe mô tô biển số 85 1-186.29, ông T3cũng không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử s thẩm không xét đ n.
Toàn bộ số tiền gia đình bị cáo thay bị cáo bồi thường không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại nên Hội đồng xét xử s thẩm không xét đ n.
- Đối với số tiền 1.200.000 đồng của chị Xung T9 T5được Xung T1cho, có nguồn gốc từ việc Xung T1bán chi c xe trộm cắp cho ông Đặng Văn T5 có nhưng T1không có yêu cầu chị T5hoàn trả nên Hội đồng xét xử s thẩm không xét đ n.
[ ] Các biện pháp tƣ pháp:
- Tạm gi , sau đó trả lại các tài sản cho các chủ sở h u, gồm: Chị Nguyễn Thị K T201 xe mô tô biển số 85 1-186.29 và 01 Giấy ch ng nhận đăng ký xe mô tô số 006343; chị Đặng Thị N1 Q01 điện thoại di động hiệu OPPO A58 màu xanh ng c. Chị T2chị Q3 nhận lại tài sản và không ý ki n gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Điện thoai Samsung GA11 màu xanh của chị Nguyễn Thị Thảo Nbị X T1trộm cắp, hiện không thu hồi được, chị N2 nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đ n.
- Thu gi 300.000 đồng của X T1có nguồn gốc từ việc bán chi c xe trộm cắp cho ông Đặng Văn T5 có. Số tiền này liên quan đ n ngh a vụ bồi thường của bị cáo nhưng vì trách nhiệm dân sự đã giải quy t xong nên tiền thu gi này không còn liên quan đ n vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo cũng xin nhận lại số tiền này, vì vậy tuyên hoàn trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về các hành vi liên quan:
Đối với anh Tou PHàn Khánh D1 và chị Nguyễn Hồng B Hđã có hành vi giúp s c và cầm cố chi c điện thoại OPPO A58 màu xanh ng c; chị Xung T9 T5và ông Đặng Văn T4 đã có hành vi môi giới và mua chi c xe mô tô biển số 85F1-186.29. Tuy nhiên, nh ng người này đều không bi t đó là tài sản do T1trộm cắp mà có nên C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xem xét, xử lý là đúng quy định pháp luật.
Đối với người tên T1đã sử dụng và th chấp điện thoại OPPO A58 màu xanh ng c do T1trộm cắp nhưng hiện không xác định được lai lịch Hội đồng xét xử s thẩm không có c sở xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự s thẩm.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đ n vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt chính:
Căn c vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i b sung năm 2017):
- Tuyên bố: Bị cáo Xung T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo X1 Mƣời hai tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/9/2024.
2 Về biện pháp tƣ pháp:
Căn c Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo X T1
đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này hiện đang tạm gi tại tài khoản số 3949.0.1047599, theo Ủy nhiệm chi số 89 lập ngày 26/12/2024 cho đ n vị nhận tiền là Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh S n, tỉnh Ninh Thuận.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo X T1 phải chịu 2
đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự s thẩm.
4 Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:
Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Án xử công khai s thẩm, có mặt bị cáo tại điểm cầu thành phần được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đ n vụ án có mặt tại điểm cầu trung tâm được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đ n quyền lợi, ngh a vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s thẩm (Ngày 29-4-2025).
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đ n vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đ n quyền lợi, ngh a vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm y t theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh S n; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Ninh S n; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - PV06 Công an tỉnh Ninh Thuận; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan; - Lưu: Hồ s , Án văn hình sự; | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thùy Dung |