- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Thị T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Phạt Vy Thị H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày 19- 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Minh Tường.
+ Ông Vi Văn Hậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Nhuần – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10
- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Hoàng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Vy Thị H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27/10/1992, tại xã Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Văn C; con bà: Trương Thị H; chồng: Châu Minh C (Đã ly hôn); con có 2 người; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo được tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: 1. Chị Sầm Thị L, sinh năm 1989; trú tại bản L, xã Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Chị Lang Thị B, sinh năm 1991; trú tại bản X, xã C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 05/2015, Vy Thị H là nhân viên của Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam, thực hiện hỗ trợ, tư vấn các dịch vụ tài chính. Khi khách hàng đồng ý vay tiền thì H sẽ đăng nhập App của công ty để thực hiện hợp đồng điện tử với khách hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng phải cung cấp hình ảnh chân dung, chứng minh thư nhân dân hoặc căn cước công dân, số điện thoại đang sử dụng cho công ty, hệ thống của công ty sẽ xác minh, phê duyệt. Sau đó hệ thống của công ty trên App sẽ soạn thảo hợp đồng điện tử cho khách hàng xem, khách hàng đọc và đồng ý xác nhận trên App bằng cách kí số trên hợp đồng điện tử. Hệ thống sau khi duyệt thì H sẽ hướng dẫn khách hàng cách thức để nhận, giải ngân số tiền vay, đồng thời khách hàng xác nhận với công ty qua hệ thống bằng mã OTP. Vy Thị H không có chức năng, nhiệm vụ nhận tiền của khách hàng để thanh toán tiền về công ty, quy định này được nêu rõ trong quy chế của công ty mà H đã cam kết thực hiện.
Vy Thị H sử dụng tài khoản Viettell Pay 9704229209952055, đăng kí bằng số điện thoại 0374475739 để giao dịch với khách hàng, sau đó H sẽ chuyển tiền từ tài khoản Viettell Pay 9704229209952055 sang tài khoản Viettell Pay Pro 10011411100_VPT_00042_DB (tài khoản này được cấp khi H đăng ký làm điểm bán của Viettell) để thực hiện các giao dịch thanh toán, trong đó có thu hộ (phần trả góp). Trong quá trình sử dụng tài khoản Viettell Pay Pro, H biết được việc hủy giao dịch thanh toán trên Viettell Pay Pro trong ngày sẽ được hoàn lại tiền về tài khoản như cũ. Nếu quá 24 giờ cùng ngày sang 00 giờ 00 ngày hôm sau thì không hủy được lệnh thanh toán.
Hành vi thứ nhất: Ngày 06/6/2022, chị Lang Thị B liên hệ với Vy Thị H để vay khoản tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) với Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam, kỳ hạn vay trong 36 tháng thông qua hợp đồng vay số 4202887866, trên hợp đồng ghi số tiền là 70.819.000 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm mười chín nghìn), trong đó 10.819.000 đồng (Mười triệu tám trăm mười chín nghìn) là tiền mua bảo hiểm tiền vay và tiền lãi, thời hạn vay từ 06/6/2022 đến 06/6/2025. Đến ngày 02/8/2024, chị B còn nợ 29.143.000 đồng (Hai mươi chín triệu một trăm bốn mươi ba nghìn) nên chị B đã đưa cho Vy Thị H số tiền 29.143.000 đồng (Hai mươi chín triệu một trăm bốn mươi ba nghìn) để tất toán hết hợp đồng vay này. H đã thao tác trên tài khoản Viettell Pay Pro của mình và thông báo với chị B là đã thanh toán xong hợp đồng vay của chị B (H gửi hình ảnh chuyển tiền thành công cho chị B). Ngay trong ngày 02/8/2024, H đã vào lịch sử thanh toán hợp đồng của chị B trên tài khoản Viettell Pay Pro và hủy giao dịch thanh toán số tiền 29.143.000 đồng (Hai mươi chín triệu một trăm bốn mươi ba nghìn), sau đó H chuyển số tiền này sang tài khoản Viettell Pay 9704229209952055 của mình. Vy Thị H tiếp tục thanh toán tiền gốc và tiền lãi theo định kỳ trên hợp đồng vay của chị B, cụ thể: vào các ngày 06/8/2024; 06/9/2024; 06/10/2024; 06/11/2024 H đều thanh toán số tiền 2.652.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn) cho hợp đồng vay của chị B. Tổng số tiền H đã thanh toán là 10.608.000 đồng (Mười triệu sáu trăm linh tám nghìn đồng). Số tiền còn lại 18.535.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Đến khi Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam báo nợ quá hạn, chưa đóng tiền theo hợp đồng vay thì chị Lang Thị B mới biết H không thanh toán tiền cho công ty để tất toán hợp đồng vay cho mình, nên ngày 18/01/2025 chị Lang Thị B làm đơn trình báo gửi Cơ quan điều tra tố giác hành vi của Vy Thị H.
Hành vi thứ hai: Ngày 28/12/2023, chị Sầm Thị L liên hệ với Vy Thị H vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam (Số hợp đồng 4304929455, trên hợp đồng ghi số tiền là 53.756.000 đồng (Năm mươi ba triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn đồng), trong đó 3.756.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn đồng) là tiền mua bảo hiểm tiền vay và tiền lãi. Kỳ hạn vay 15 tháng, thời hạn vay từ ngày 28/12/2023 đến ngày 28/03/2025). Đến ngày 05/01/2024, chị L đã chuyển số tiền là 42.894.000 đồng (Bốn mươi hai triệu tám trăm chín mươi tư nghìn) cho H để thanh toán tiền gốc và lãi hàng tháng cho hợp đồng vay này. H đã thông báo với chị L là đã thanh toán xong hợp đồng vay của chị L (Trang gửi kèm hình ảnh chuyển tiền thành công về công ty cho chị L). Ngay trong ngày 05/01/2024, H đã vào lịch sử thanh toán hợp đồng của chị L trên tài khoản Viettell Pay Pro của mình và hủy giao dịch thanh toán số tiền 42.894.000 đồng (Bốn mươi hai triệu tám trăm chín mươi tư nghìn), sau đó H chuyển số tiền này sang tài khoản Viettell Pay 9704229209952055 của mình. Từ tháng 01/2024 đến tháng 8/2024, H đã thanh toán hợp đồng cho chị L tổng số tiền là 35.484.474 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bảy mươi tư đồng) theo giao dịch thanh toán điện tử từ phía Công ty, cụ thể: các ngày 05/01/2024; 28/02/2024; 29/3/2024; 18/4/2024; 03/6/2024; 05/7/2024 H đều thanh toán số tiền 4.766.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn) cho hợp đồng vay của chị L; các ngày 28/7/2024; 28/8/2024 H đều thanh toán số tiền 3.433.237 đồng (Ba triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn hai trăm ba mươi bảy đồng) cho hợp đồng vay của chị L mà không đóng lãi; còn lại số tiền 7.409.526 đồng (Bảy triệu bốn trăm linh chín nghìn năm trăm hai mươi sáu đồng) thì H chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Đến khi Công ty tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam báo nợ quá hạn, chưa đóng tiền theo hợp đồng vay thì chị L mới biết H không thanh toán cho công ty số tiền mình đã chuyển cho H như H đã nói. Chị L đã nhiều lần liên hệ với H nhưng H khất lần, hứa hẹn nhiều lần nên ngày 18/01/2025 chị Sầm Thị L làm đơn trình báo gửi Cơ quan điều tra tố giác hành vi của Vy Thị H.
Cáo trạng số 08/CT-VKSKV10 ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An truy tố bị cáo Vy Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Vy Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã kết luận.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Nghệ An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vy Thị H từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 11/2024, tại thị trấn Tân Lạc, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ( nay là xã Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An), Vy Thị H đã hai lần thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể: Ngày 02/8/2024, Vy Thị H chiếm đoạt của chị Lang Thị B với số tiền 18.535.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Ngày 05/01/2024, Vy Thị H chiếm đoạt của chị Sầm Thị L với số tiền 7.409.526 đồng (Bảy triệu bốn trăm linh chín nghìn năm trăm hai mươi sáu đồng) để tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền Vy Thị H chiếm đoạt của chị Sầm Thị L và chị Lang Thị B là 25.944.526 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi sáu đồng). Do đó bị cáo Vy Thị H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác về tài sản, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo phạm tội nhiều lần. Do đó cần xét xử nghiêm cho tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường toàn bộ cho bị hại; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng. Vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương giáo dục cũng đáp ứng được công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Nghệ An đề nghị xử phạt bị cáo Vy Thị H từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp lý.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì nữa, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì đáng giá, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với điện thoại di động thu giữ của bị cáo là phương tiện phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Phạt Vy Thị H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vy Thị H cho Uỷ ban nhân dân xã Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Vy Thị H cho Công an xã Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An giám sát trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X màu trắng. Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 29/8/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Nghệ An.
Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vy Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại - VKSND khu vực 10 – Nghệ An. -VKSND tỉnh Nghệ An. - Công an tỉnh Nghệ An. - Cơ quan THA DS tỉnh Nghệ An. - UBND xã nơi bị cáo cư trú. - Lưu VP,THAHS, Hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Công Phong |