- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Huy Th phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Huy Th phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2025/HS-ST Ngày: 10 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Dũng Tấn.
2. Ông Nguyễn Xuân Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Loan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/HSST-QĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Hoàng Huy Th, sinh ngày 14/01/2005; Tên gọi khác: Không; Tại: Xã Th Ph, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân: 038205030591; Cấp ngày 11 tháng 03 năm 2023. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn A, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Huy Th, sinh năm 1974; Con bà Trịnh Thị Th1, sinh 1977; Vợ: chưa; con chưa.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2025 đến ngày 23/01/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tuấn V, sinh năm 2005; (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn A, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Trung D, sinh năm 1985; (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã Th D, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 11/01/2025, Hoàng Huy Th lên mạng xã hội Facebook đặt mua trên mạng 04 hộp pháo nổ do Trung Quốc sản xuất để sử dụng vào dịp tết Nguyên đán với giá 7.200.000đ. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 14/01/2025, khi Thế đang ngồi uống nước cùng với Nguyễn Tuấn V, sinh năm 2005 ở khu phố Đ, thị trấn A tại quán Timore ở khu phố 2, thị trấn A thì có người gọi điện qua ứng dụng Facebook cho Thế báo nhận hàng, Thế hiểu là nhận pháo đã đặt mua trước đó, nên ra vị trí đã hẹn là quán bún gần đường kênh Nam thuộc Thị trấn A. Sau đó, Th mượn xe máy BKS 36C3-279.83 của V bảo đi có tí việc, V đồng ý. Th điều khiển xe ra chỗ hẹn để lấy pháo. Tại đây Th gặp một người đàn ông không quen biết, người này chỉ tay về phía một cái bì đang để phía lề đường, Th hiểu là ra đó là bì pháo. Th lại gần mở bì ra thì thấy bên trong có đủ 04 hộp pháo như đã đặt mua và thanh toán cho người này số tiền 7.200.000đ rồi lấy bì pháo đặt lên xe rồi đi về.
Quá trình điều khiển xe chở pháo, Th định đưa pháo về nhà để cất giấu nhưng khi đi trên đường thấy có người đi phía sau, nghĩ là Công an đang theo dõi, do lo sợ bị phát hiện nên Th điều khiển xe mô tô qua nhà, hướng xuống xã Th D. Khi đi đến khu vực ruộng lúa thuộc thôn M, xã Th D, nhìn xung quanh không có người nên Th để bì pháo ở bờ ruộng rồi quay về quán nước Timore nơi V đang đợi.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, Th rủ Vũ xuống xã Th D đi chơi nhưng mục đích chủ yếu là đi lấy pháo. Khi đến gần khu vực cất giấu trước đó, Th nói với V xuống lấy hộ cái bì màu trắng, xanh, đỏ đang để dưới bờ ruộng gần đó, V đồng ý. V xuống xe đi bộ về hướng tay Th chỉ, khi V vừa đến chỗ bì pháo thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện. Th thấy công an thì bỏ chạy, còn V thì bị lực lượng Công an giữ lại lập biên bản, thu giữ 04 hộp giấy nghi là pháo nổ.
Ngày 15/01/2025, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và không thể trốn tránh được nên Th đã đến Công an huyện Thiệu Hóa viết đơn đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình ( BL 75-77).
Tại Kết luận giám định số 489/KL-KTHS, ngày 21/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa Thanh Hóa kết luận:
- 01 (một) khối hộp kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự “Y4049”, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng sợi dây ngòi, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm gửi đến giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo là 1.7kg (một phẩy ki lô gam).
- 03 (ba) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17x17x10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và dòng ký tự “4049-A”, bên trong khối hộp có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau bằng sợi dây ngòi, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm gửi đến giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng số pháo trên là 4.58kg (Bốn phẩy năm mươi tám ki lô gam) (BL: 12).
Quá trình điều tra, Th khai đã mua pháo với một người lạ thông qua mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên sau đó đã xóa tin nhắn, điện thoại đã bị mất nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng.
- Đối với Nguyễn Tuấn V, trong quá trình đi chơi với Hoàng Huy Th thì Vũ được bị can Th nhờ xuống xách bì đựng pháo lên. Nhưng trong suốt quá trình Th mua bán, tàng trữ pháo, V không biết; Khi đồng ý xách bì xác rắn lên hộ Th, V không biết bên trong bì xác rắn chứa đựng pháo nên không có cơ sở xác định V đồng phạm với V trong tội tàng trữ trái phép hàng cấm.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSND - TH ngày 24/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Hoàng Huy Th về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; Đề nghị Xử phạt bị cáo từ 8 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đê nghị tịch thu tiêu hủy : 01 (Một) thùng caton được dán kín niêm phong có các chữ ký ghi rõ họ tên Thiều Trần Hòa, Trần Nam Giang và hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì sắc rắn màu trắng, xanh đỏ; 01 túi ni lon màu đen; 01 túi ni lon màu trắng, đỏ; 02 túi ni lon màu trắng;
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu ghi, số seri DX3Z8AN5HG7H, số imeil 356389100215745, điện thoại có một sim đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Văn Trường, Trịnh Thị Lý và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thiệu Hóa
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác; Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi, chứng cứ xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Huy Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 11/01/2025, Hoàng Huy Th lên mạng xã hội Facebook đặt mua trên mạng 04 hộp pháo nổ do Trung Quốc sản xuất để sử dụng vào dịp tết Nguyên đán với giá 7.200.000đ với tổng khối lượng là 6.28kg. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 14/01/2025 có người gọi nhận hàng, Th hiểu là nhận pháo nổ. Vì sợ công an phát hiện nên sau khi nhận pháo Th đã giấu pháo tại bờ ruộng, sau đó Th rủ Vũ đi chơi, khi đi đến gần nơi để pháo, Th nói với V xuống lấy hộ cái bì màu trắng, xanh, đỏ đang để dưới bờ ruộng gần đó, khi V vừa đến chỗ bì pháo thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện. Th thấy công an thì bỏ chạy. Ngày 15/01/2025, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và không thể trốn tránh được nên Th đã đến Công an huyện Thiệu Hóa viết đơn đầu thú khai nhận hành vi tàng chữ pháo nổ của mình. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi đó phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú, bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy xét thấy việc áp dụng hình phạt phạt tù, cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo là lao động tự do, không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định; Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thùng cát tông được dán kín niêm phong có các chữ ký ghi rõ họ tên Thiều Trần Hòa, Trần Nam Giang và hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định. Đây là hàng cấm nên Hội đồng xét thấy tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 (Một) bì sắc rắn màu trắng, xanh, đỏ; 01 túi ni lon màu đen; 01 túi ni lon màu trắng, đỏ và 02 túi ni lon màu trắng, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét thấy tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 màu ghi, số seri DX3Z8AN5HG7H, số imeil 356389100215745, điện thoại có một sim. Tại phiên tòa bị cáo khai mới mua ngày 14/01/2025, tuy nhiên bị cáo không có tài liệu chứng cứ để chứng minh việc mới mua điện thoại, bị cáo cũng không chứng minh được chiếc điện thoại không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu nhận lại chiếc điện thoại, nên HĐXX xét thấy cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Huy Th phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Xử phạt: Hoàng Huy Th 8 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Huy Th cho Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 thùng cát tông được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Thiều Trần Hòa, Trần Nam Giang và hình dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì sắc rắn màu trắng, xanh đỏ; 01 túi ni lon màu đen; 01 túi ni lon màu trắng, đỏ và 02 túi ni lon màu trắng;
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu ghi, số seri DX3Z8AN5HG7H, số imeil 356389100215745, điện thoại có một sim được đựng trong một phong bì niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Văn Trường, Trịnh Thị Lý và các hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thiệu Hóa.
(Đặc điểm các vật chứng này theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thiệu Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa ngày 24/02/2025).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Hoàng Huy Th phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Thiệu Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Thiệu Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Thu HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |