vanban.org

Bản án 17/2025/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 08/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn QT, Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn QT có hiệu lực pháp luật.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần TT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, về phần hình phạt đối với bị cáo Trần TT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH. 1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 4… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần TT cùng đồng phạm, bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn QT, Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn QT có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:17/2025/HS-PT
Ngày: 08/01/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hưng;

Các thẩm phán:

Bà Lê Thị Thúy Bình;

Ông Trần Quang Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hòa, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1258/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với vụ án Trần TT cùng đồng phạm, bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Trần TT, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Cụm 3, xã TX, huyện ĐP, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn H và bà Trần Thị G; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ và 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (Có mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn QT, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Cụm 3, xã TX, huyện ĐP, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Lvà bà Trần Thị T; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (Có mặt).

3. Họ và tên: Lê VL, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Cụm 4, xã TX, huyện ĐP, thành phố Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lê Văn T và bà Trần Thị C; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (Có mặt).

4. Họ và tên: Đỗ DK, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Số 10/20 Tuệ Tĩnh, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ VH và bà Nguyễn TQ; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (Có mặt).

5. Họ và tên: Hoàng VH, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Cụm 4, xã TX, huyện ĐP, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng TD và bà Trần TT; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 31/10/2023 đến ngày 27/11/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo Thành: Ông Lê MT – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Bảo Công, Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; địa chỉ: Số 02, Khu 1, Thạch Khôi, TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo Triệu: Ông Lương VN, Luật sư Công ty luật Bảo Chính thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội;

- Người bào chữa cho các bị cáo Lẫm: Bà Phạm Thị T – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Á Đông, Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; , thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo Khánh: Ông Trần TT – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Á Đông, Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; địa chỉ: , tỉnh Hải Dương (Có mặt).

Ngoài ra, vụ án còn có 08 bị cáo khác và 55 bị hại và 02 gười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 4/2023, Trần TT rủ 12 người gồm: Nguyễn Bá Đoàn, Vũ Bá Dưỡng, Nguyễn QT, Lê Tuấn Hải, Đỗ DK, Ngô Nhật Ninh, Lê VL, Nguyễn Trọng Tấn, Hoàng Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Hoàng Long, Lê Hồng Phi, Hoàng VH thuê nhà ở số 3, ngách 15, ngõ 61, Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội để cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền thông qua mạng xã hội Facebook. Cụ thể: Đoàn, Dưỡng, Triệu, Hải, Khánh, Ninh, Tấn, Trang, Long, Phi, Huy lập các tài khoản Facebook giả danh là các cửa hàng bán điện thoại di động, đăng bài viết lên các hội nhóm trên Facebook với nội dung tặng miễn phí điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Khi có người vào bình luận thì Đoàn, Dưỡng, Triệu, Hải, Khánh, Ninh, Tấn, Trang, Long, Phi, Huy sẽ nhắn tin qua ứng dụng Messenger của Facebook để nói chuyện trực tiếp và yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân và số điện thoại liên hệ. Sau đó, tạo một phiếu chuyển hàng (điện thoại Iphone) ghi thông tin người nhận là thông tin của bị hại để tạo lòng tin, sau đó sẽ tiếp tục thực hiện kịch bản chuẩn bị sẵn các tình huống để lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại như sau:

Bước 1: Yêu cầu bị hại nộp 200.000 đồng tiền phí xuất hoá đơn, sau đó làm 01 hoá đơn giả với thông tin do bị hại cung cấp rồi chụp ảnh gửi lại cho họ.

Bước 2: Yêu cầu bị hại nộp 500.000 đồng là tiền để hoàn thiện thủ tục xuất hàng, nếu không đồng ý thì sẽ thông báo họ có thể bị phạt số tiền 35.000.000 đồng do huỷ đơn hàng.

Bước 3: Yêu cầu bị hại nộp số tiền 1.500.000 đồng là tiền phí bảo hành điện thoại. Nếu ai có thắc mắc sẽ nhờ người khác đóng vai nhân viên của công ty điện thoại gọi điện cho bị hại yêu cầu nộp tiền.

Bước 4: Yêu cầu bị hại nộp số tiền 4.000.000 đồng là tiền đặt cọc trước khi chuyển hàng do giá trị đơn hàng lớn. Người đang trực tiếp liên hệ với bị hại sẽ nhờ người khác khác đóng giả là nhân viên chuyển hàng hoặc nhân viên bưu cục gọi thông báo cho bị hại về việc phí đóng tiền cọc của đơn hàng.

Bước 5: Yêu cầu bị hại nộp số tiền từ 5.000.000 đồng với lý do hàng bị Chi cục thuế kiểm tra nên phải nộp tiền thì mới nhận được hàng, hoặc phải nộp tiền để gửi kho bạc làm hồ sơ hoàn lại số tiền đã nộp. Lúc đó, một người khác sẽ đóng giả là cán bộ Chi cục thuế, cán bộ Kho bạc Nhà nước gọi điện cho bị hại để trao đổi thông tin.

Bước 6: Yêu cầu bị hại nộp thêm tiền, số tiền nộp thêm tùy vào phản ứng của từng bị hại. Nếu bị hại tin tưởng chuyển tiền sẽ tiếp tục lấy lý do hồ sơ bị lỗi phải nâng hạn mức để yêu cầu bị hại chuyển thêm tiền đến khi nào bị hại không chuyển nữa thì thôi.

Bị hại có thể thanh toán tiền bằng 02 cách: Mua thẻ điện thoại rồi chụp số seri thẻ gửi cho Đoàn, Dưỡng, Triệu, Hải, Khánh, Ninh, Lẫm, Tấn, Trang, Long, Phi, Huy để tiếp tục gửi các hình ảnh thẻ điện thoại bán cho chị Trần Thị Ngân, sinh năm 1988, trú tại số 04, ngõ 683 Minh Khai, phường Thanh Lương, Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội hoặc có thể chuyển tiền đến 06 tài khoản Ngân hàng do Thành mua gồm: tài khoản ngân hàng SHB số 0502538386 mang tên Hoàng Thị Thành Tâm; tài khoản ngân hàng VPBank số 5555502062002 mang tên Lê Tú Anh; tài khoản ngân hàng SHB số 0982349061 mang tên Nguyễn Ngọc Lân; tài khoản ngân hàng VPBank số 7777332204 mang tên Lê Thế Vinh; tài khoản ngân hàng VIB số 326304871 mang tên Trần Minh Hiếu; tài khoản ngân hàng VIB số 011119985 mang tên Nguyễn Văn Mừng. Trần TT giao cho Triệu quản lý 06 tài khoản trên.

Thành cùng Đoàn, Dưỡng, Triệu, Hải, Khánh, Ninh, Lẫm, Tấn, Trang, Long, Phi, Huy thống nhất chia số tiền chiếm đoạt được theo tỷ lệ như sau: người trực tiếp thực hiện việc lừa đảo được hưởng 60% số tiền chiếm đoạt được, Thành hưởng 30%, Lẫm hưởng 10%. Riêng đối với Tấn và Long thì Thành thỏa thuận Tấn, Long được hưởng 50% số tiền lừa được, Thành hưởng 40%, Lẫm hưởng 10%. Hàng tuần, Thành chia tiền cho những người trên bằng tiền mặt.

Ngày 24/6/2023, chị Nguyễn Thị Ngọc Anh, sinh năm 1989, trú tại phường Hoàng Tiến, thành phố Chí Linh sử dụng Facebook thì thấy tài khoản Facebook “Nhật Hà” do Nguyễn Bá Đoàn sử dụng đăng bài viết tặng 100 điện thoại, chị Ngọc Anh nhắn tin muốn nhận điện thoại thì nhận được thông báo từ tài khoản trên xác nhận chị Ngọc Anh trúng thưởng điện thoại Iphone 14 Promax 128 Gb. Sau đó, Đoàn yêu cầu chị Ngọc Anh chuyển khoản 200.000 đồng để làm thủ tục xuất hóa đơn và tiếp tục yêu cầu chị Ngọc Anh chuyển các khoản tiền để xác thực thông tin người nhận, chuyển thêm tiền để nhận được thêm 02 điện thoại nữa, tổng số tiền chị Ngọc Anh đã chuyển khoản là 2.100.000 đồng. Sau khi nhận ra việc bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 06/7/2023 chị Ngọc Anh có đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm bị hại trên các phương tiện thông tin đại chúng, kết quả đến nay đã làm rõ được từ tháng 4/2023 đến tháng 7/2023 có 55 bị hại bị chiếm đoạt tổng số tiền là 517.750.000 đồng, cụ thể:

Lê Tuấn Hải trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Thanh Tâm” và “Nguyễn Khánh Linh” thực hiện hành vi lừa đảo 08 bị hại gồm:

(1) Chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Ngọc, sinh năm 1993, trú tại xóm Hạ, xã Cao Xá, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang 18.400.000 đồng.

(2) Chị Vũ Thị Loan, sinh năm 2003, trú tại thôn Đồng Lợi, xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 18.200.000 đồng.

(3) Anh Vi Văn Định, sinh năm 2002, trú tại Bản Cải, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An 20.700.000 đồng.

(4) Chị Bùi Thị Thu Hà, sinh năm 2005, trú tại thôn Môn Tía, xã Nguyệt Ấn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 18.400.000 đồng.

(5) Anh Nguyễn Đức Quân, sinh năm 2005, trú tại thôn Đa Phú 1, xã Thống Nhất, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 6.200.000 đồng.

(6) Chị Nguyễn Hà Anh, sinh năm 2010, trú tại phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 7.200.000 đồng.

(7) Anh Vũ Đức Minh, sinh năm 2009, trú tại xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định 2.200.000 đồng.

(8) Anh Lại Đức Hậu, sinh năm 2006, trú tại thôn Thuận Bình, xã Thuận Hạnh, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk 2.200.000 đồng.

Hoàng Thị Thu Trang trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Quỳnh Như” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 07 bị hại gồm:

(9) Anh Nguyễn Minh Thế, sinh năm 2005, trú tại thôn Phong Lâm, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương 1.700.000 đồng.

(10) Chị Nguyễn Thị Hồng Hạnh, sinh năm 2003, trú tại thôn Trung, xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 5.100.000 đồng.

(11) Chị Đinh Thị Thu Thanh, sinh năm 2001, trú tại thôn Tân Tiến, xã Minh Tân, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 10.700.000 đồng.

(12) Anh Nguyễn Minh Hoàng, sinh năm 2010, trú tại tổ dân phố Nghĩa Nam, thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa 5.700.000 đồng.

(13) Chị Trần Ngọc Trúc Nhi, sinh năm 2010, trú tại xã Long Phước, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 13.700.000 đồng.

(14) Anh Trần Văn Tài, sinh năm 2003, trú tại Tổ dân phố 5, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc 5.200.000 đồng.

(15) Anh Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1994, trú tại Tổ 3, phường Xuất Hóa, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn 2.700.000 đồng.

Ngô Nhật Ninh trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Huỳnh Mai Linh” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 03 bị hại gồm:

(16) Anh Vi Long Hoàng, sinh năm 2005, trú tại xóm Trung Tâm, xã Na Mao, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 5.200.000 đồng.

(17) Chị Trần Thị Hồng Phúc, sinh năm 2008, trú tại thôn Yên, xã Thuần Thiện, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 16.200.000 đồng.

(18) Anh Nguyễn Lương Nguyên, sinh năm 2008, trú tại Số 10, ngõ 283, Phố Yên Duyên, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, 1.700.000 đồng.

Vũ Bá Dưỡng trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Linh Chi” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 02 bị hại gồm:

(19) Chị Phạm Chi Lan, sinh năm 2010, trú tại thôn Phong Cầu 1, xã Đại Đồng, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng 51.100.000 đồng.

(20) Chị Nguyễn Thị Hải Linh, sinh năm 2009, trú tại thôn Bái, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 6.180.000 đồng.

Hoàng VH trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Thị Huyền” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 03 bị hại gồm:

(21) Chị Dương Thu Phương, sinh năm 2009, trú tại Tổ dân phố Bạch Đằng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 700.000 đồng.

(22) Chị Phạm Thị Anh Thư, sinh năm 2009, trú tại thôn Vạn Tải, xã Minh Đức, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 450.000 đồng.

(23) Chị Đinh Thị Soe, sinh năm 2006, trú tại Làng Vir, xã Krong, huyện KBang, tỉnh Gia Lai 6.200.000 đồng.

Đỗ DK trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Ngọc Trem” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 07 bị hại gồm:

(24) Anh Bùi Đức Đạt, sinh năm 1988, trú tại đường Đồng Hòa, phường Quán Trữ, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng 6.200.000 đồng.

(25) Chị Lê Tố Nhiên, sinh năm 2009, trú tại số 28 Bà Triệu, tổ dân phố 5, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk 9.250.000 đồng.

(26) Chị Vũ Thị Phương Thảo, sinh năm 2007, trú tạ: ấp Tây Yên, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai 9.000.000 đồng.

(27) Chị Ly Mí Thề, sinh năm 1995, trú tại thôn Séo Lủng I, xã Thái An, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang 6.200.000 đồng.

(28) Chị Nguyễn Thị Thanh Hằng, sinh năm 2009, trú tại thôn Đông Du Núi, xã Đào Viên, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 2.200.000 đồng.

(29) Chị Kim Thị Hồng Hân, sinh năm 2008, trú tại Ấp Tân Thịnh, xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương 4.200.000 đồng.

(30) Chị Y Viên, sinh năm 2009, trú tại thôn 8, xã Đắk La, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum 14.300.000 đồng.

Lê Hồng Phi trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Khả Hy”, “Trần Kiều Diễm” và “ Hang Dinh” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 07 bị hại gồm:

(31) Chị Lê Thị Bảo Ngân, sinh năm 2012, trú tại Thôn Sui, xã Văn Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 1.700.000 đồng.

(32) Chị Lý Hồng Hân, sinh năm 2005, trú tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 4.190.000 đồng.

(33) Anh Hồ Thành Luân, sinh năm 1995, trú tại Tổ 6, Ấp 6, xã Minh Thắng, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 10.700.000 đồng.

(34) Chị Hoàng Thị Huyền, sinh năm 2006, trú tại Thôn Hoàng Sơn Tây, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 1.700.000 đồng.

(35) Anh Bùi Tuấn Kiên, sinh năm 2008, trú tại Tổ 4, khu phố 3A, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương 6.200.000 đồng.

(36) Anh Lý VHên, sinh năm 2004, trú tại xóm Đà Vỹ, thị trấn Quảng Yên, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng 2.200.000 đồng.

(37) Anh Lê Quang Lộc, sinh năm 2006, trú tại Khu phố 2, phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước 6.200.000 đồng.

Nguyễn Bá Đoàn trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Nhật Hà”, “Kiều Mỹ Phụng” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 05 bị hại gồm:

(38) Chị Nguyễn Thị Ngọc Anh, sinh năm 1989, trú tại KDC Trại Trống, phường Hoàng Tiến, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương 2.100.000 đồng.

(39) Chị Lê Thị Kim Thu, sinh năm 2002, trú tại 41 Thanh Bình, Lộc Hạ, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định 6.200.000 đồng.

(40) Anh Nguyễn Tuấn Hưng, sinh năm 2007, trú tại Thôn Đông 2, xã Liên Vị, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 21.200.000 đồng.

(41) Anh Mùa A Cu, sinh năm 2005, trú tại Bản Đề Sủa, xã Lao Chái, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái 5.700.000 đồng.

(42) Anh Hồ Sỹ Đồng, sinh năm 1992, trú tại thôn 6, xã Quỳnh Lộc, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An 6.200.000 đổng.

(43) Chị Trần Thị Phương Linh, sinh năm 2010, trú tại thôn 3, xã Bồ Đề, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 2.200.000 đồng.

(44) Chị Điểu Thị Jury, sinh năm 2012, trú tại Ấp tranh 3, xã Quang Minh, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước 11.630.000 đồng.

(45) Chị Nguyễn Thị Kiều, sinh năm 2007, trú tại Phú Hữu 2, Ân Tường Tây, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định 11.800.000 đồng.

(46) Chị Phạm Thị Mai Ly, sinh năm 2011, trú tại Khu phố 10, ấp Hiệp Tâm 2, thị trấn Định Quán, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai 39.200.000 đồng.

Nguyễn QT trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Trần Hạnh”, “Hà Linh Linh” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 03 bị hại gồm:

(47) Chị Trịnh Như Quỳnh, sinh năm 2006, trú tại khu đô thị Phúc Thành, xã Nhân Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên 200.000 đồng.

(48) Chị Trần Thị Lan Anh, sinh năm 2005, trú tại phường Phù Chuẩn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 2.200.000 đồng.

(49) Chị Phạm Ngọc Như Hảo, sinh năm 2012, trú tại Tổ dân phố 15, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa 3.300.000 đồng.

Nguyễn Trọng Tấn trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Mỹ Linh” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 04 bị hại gồm:

(50) Chị Nguyễn Thị Anh Thư, sinh năm 2006, trú tại thị trấn Hải Hậu, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 23.050.000 đồng.

(51) Anh Nguyễn Công Khánh, sinh năm 2002, trú tại Khu phố Trường Thạch, thị trấn Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định 14.200.000 đồng.

(52) Anh Lương Đồng Giáp, sinh năm 2000, trú tại thôn Bản Hu, xã Bắc Hùng, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 16.200.000 đồng.

(53) Chị Trương Thị Hồng Diệp, sinh năm 2008, trú tại thôn Tân Trung Thủy, xã Cẩm Lộc, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh 29.200.000 đồng.

Nguyễn Văn Hoàng Long trực tiếp sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn Nhung” và “ Thu Hà” thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của:

(54) Anh Phạm Ngọc Hoàn, sinh năm 2001, trú tại xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên 5.200.000 đồng.

(55) Chị Lò Thị Nguyệt, sinh năm 2002, trú tại phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang 7.700.000 đồng.

Đối với số tiền chiếm đoạt được của các bị hại nhận qua 06 tài khoản gồm: Tài khoản ngân hàng SHB, số 0502538386 mang tên Hoàng Thị Thanh Tâm; tài khoản ngân hàng VPBank, số 5555502062002 mang tên Lê Tú Anh; tài khoản ngân hàng SHB, số 0982349061 mang tên Nguyễn Ngọc Lân; tài khoản ngân hàng VPBank, số 7777332204 mang tên Lê Thế Vinh; tài khoản ngân hàng VIB, số 326304871 mang tên Trần Minh Hiếu; tài khoản ngân hàng VIB, số 011119985 mang tên Nguyễn Văn Mừng. Thành giao cho Triệu, Lẫm quản lý và rút tiền mặt giao lại cho Thành.

Về việc phong tỏa tài khoản: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phong tỏa 08 tài khoản gồm: 05 tài khoản do Thành quản lý, sử dụng; 03 tài khoản do Lẫm sử dụng, tổng số tiền phong tỏa là 199.307.073 đồng.

Vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ vật chứng gồm: Các bộ máy tính, điện thoại kèm sim số, các thẻ Ngân hàng do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trịnh Như Quỳnh bị chiếm đoạt 200.000 đồng không yêu cầu bồi thường; 54 bị hại khác yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền bị chiếm đoạt.

Quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện giao nộp tổng số tiền là 517.984.000 đồng (Trần TT nộp 150.000.000 đồng, Lê VL nộp 50.000.000 đồng, Ngô Nhật Ninh nộp13.860.000 đồng, Đỗ DK nộp 30.810.000 đồng, Nguyễn Văn Hoàng Long nộp 6.450.000 đồng, Lê Hồng Phi nộp19.734.000 đồng, Nguyễn QT nộp 3.420.000 đồng, Hoàng VH nộp 4.410.000 đồng; 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Hoàng Thị Thanh Tâm tự nguyện nộp 230.100.000 đồng, Trần Thị Ngân tự nguyện nộp 9.200.000 đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm a khoản 3 Điều 174 (đối với bị cáo Hoàng VH) Bộ luật Hình sự; Điều 17; Điều 38; Điều 48; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần TT, Nguyễn QT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Trần TT 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn QT 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2023.

- Xử phạt bị cáo Lê VL 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2023.

- Xử phạt bị cáo Đỗ DK 07 (bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2023.

- Xử phạt bị cáo Hoàng VH 33 (ba mươi ba) tháng tù, được trừ đi 28 ngày bị tạm giam, bị cáo Huy còn phải chấp hành hình phạt còn lại là 32 (ba mươi hai) tháng 02 (hai) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đầu thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 08 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các ngày 24,25,30/9/2024, các bị cáo Trần TT, Nguyễn QT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH đều có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, trong đó Trần TT, Lê VL, Đỗ DK giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt; bị cáo Hoàng VH thay đổi kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Nguyễn QT rút toàn bộ nội dung kháng cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Triệu đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Triệu. Luật sư bào chữa cho các bị cáo Thành, Khánh, Lẫm, Huy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết mới mà các bị cáo cung cấp tại phiên tòa, sửa bản án hình sự sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích đánh giá nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và căn cứ nội dung kháng cáo của các bị cáo, kết luận: các bị cáo Trần TT, Nguyễn QT, Lê VL, Đỗ DK bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình; bị cáo Hoàng VH bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn QT đã tự nguyện rút kháng cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Triệu theo quy định; xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của từng bị cáo; đối chiếu với hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo khác có cùng hành vi phạm tội tương tự, trong đó có nhóm các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp quy đinh tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của cáo bị cáo, đồng thời các bị cáo có kháng cáo đã cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới như thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm hình phạt cho Trần TT, Lê VL, Đỗ DK mỗi bị cáo 02 năm tù; giữ nguyên hình phạt đối với Hoàng VH, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm, đã được cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương là hợp lệ và trong thời hạn luật định nên được xem xét theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, những lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 4/2023 đến tháng 7/2023, tại số nhà 3 ngách 15, ngõ 61 Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Trần TT tổ chức cho Lê VL, Nguyễn Bá Đoàn, Vũ Bá Dưỡng, Nguyễn QT, Lê Tuấn Hải, Đỗ DK, Ngô Nhật Ninh, Nguyễn Trọng Tấn, Hoàng Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Hoàng Long, Lê Hồng Phi và Hoàng VH sử dụng máy vi tính đưa các thông tin gian dối về việc tặng thưởng điện thoại Iphone miễn phí lên các hội nhóm trên Facebook. Sau khi có người nhắn tin trao đổi về việc nhận tặng điện thoại, Đoàn, Dưỡng, Triệu, Hải, Khánh, Ninh, Tấn, Trang, Long, Phi, Huy yêu cầu bị hại cung cấp thông tin cá nhân và số điện thoại liên hệ, tạo phiếu chuyển hàng giả, yêu cầu bị hại nộp các khoản tiền như: phí xuất hóa đơn, tiền hoàn thiện thủ tục xuất hàng, tiền bảo hành, tiền đặt cọc trước do giá trị đơn hàng lớn, nộp thêm tiền do bị cơ quan thuế kiểm tra, tiền làm hồ sơ để hoàn lại số tiền đã nộp… để các bị hại tin tưởng là thật và chuyển tiền. Bằng thủ đoạn trên, Trần TT cùng đồng phạm đã lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền là 517.750.000đồng của 55 bị hại. Trong đó, Nguyễn QT, Lê VL, Đỗ DK, thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho Thành trong việc chiếm đoạt của 55 bị hại với tổng số tiền là 517.750.000 đồng và trực tiếp tham gia vào việc lừa đảo các bị hại có liên quan. Hoàng VH tham gia thực hiện hành vi phạm tội vai trò đồng phạm với Thành từ ngày 14/6/2023, chiếm đoạt của 29 bị hại, tổng số tiền là 241.100.000 đồng.

Xét hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo Trần TiếnThành, Nguyễn QT, Lê VL, Đỗ DK về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Hoàng VH về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Các bị cáo Trần TT, Lê VL, Nguyễn QT, Đỗ DK, Hoàng VH đều nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; đã tự nguyện nộp tiền để khắc phục hậu quả tội phạm, hoàn trả lại tiền cho các bị hại thể hiện rõ ý thức ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Bị cáo Thành khắc phục 170.000.000 đồng; bị cáo Triệu 3.420.000 đồng; bị cáo Lẫm 50.000.000 đồng; bị cáo Khánh 30.810.000 đồng; bị cáo Huy nộp 4.410.00 đồng. Ngoài ra, trước khi thực hiện tội phạm các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; quá trình giải quyết vụ án bị cáo Thành xuất trình tài liệu thể hiện gia đình bị cáo là có công với cách mạng (ông nội, cụ nội được tặng bằng khen và huy chương kháng chiến, bố đẻ là quân nhân tham gia kháng chiến), tham gia đóng góp vào các quỹ tại địa phương nơi cư trú, tham gia vào việc phòng chống Covid19; Bị cáo Triệu xác định đã tham gia đóng góp vào việc phòng chống Covid19; Bị cáo Lẫm xuất trình tài liệu thể hiện gia đình bị cáo là có công với cách mạng (ông nội được tặng thưởng huân chương, có bố đẻ tham gia vào việc bảo vệ biên giới của tổ quốc, có anh trai của mẹ đẻ là liệt sỹ), tham gia đóng góp vào việc phòng chống Covid19; Bị cáo Khánh xuất trình tài liệu thể hiện gia đình bị cáo là có công với cách mạng (ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến), tham gia đóng góp vào việc phòng chống Covid19; Bị cáo Huy tham gia vào việc chống Covid19, gia đình có công (ông ngoại được tặng kỷ niệm chương kháng chiến, có cụ ngoại là liệt sỹ), hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo bị bệnh tiểu đường. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét áp dụng theo quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy quá trình thực hiện phạm tội của các bị cáo là độc lập theo phương thức đã được thống nhất trước đó; mỗi lần chiếm đoạt tài sản là không lớn, trong đó có nhiều lần dưới 2 triệu đồng; sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, đồng thời tiền chiếm đoạt là của rất nhiều người với tổng số cũng chỉ trên mức khởi điểm theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và các bị cáo đã phải chịu trách nhiệm theo khoản 3, khoản 4 của điều luật này. Ngoài ra, xét thấy ngoài bị cáo Thành là người giữ vai trò chính thì các bị cáo khác chỉ tham gia thực hiện theo từng phần việc, trong đó bị cáo Lẫm chỉ tham gia theo dõi việc chuyển tiền, nhận tiền và giao lại cho Thành, không trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo; bị cáo Khánh có hành vi giúp sức trong việc đưa ra các thông tin gian dối; bị cáo Huy tham gia giúp sức với vai trò thấp nhất. Đồng thời, các bị cáo Thành, Lẫm, Khánh, Huy đều được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và sau khi xét xử sơ thẩm đã nộp án phí sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật, thái độ thực sự ăn năn hối cải; tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều cung cấp thêm các tài liệu mới thể hiện bị cáo Thành có em trai ông nội và bác đều là liệt sỹ, bố đẻ đang bị bệnh ung thư, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, đồng thời bị cáo Thành đã nộp phần lớn số tiền khắc phục hậu quả (170.000.000 đồng); bị cáo Lẫm có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Khánh là người đang thờ cúng liệt sỹ, gia đình có công với cánh mạng kèm theo nhiều giấy khen, mẹ bị cáo đang bị bệnh nan y (HIV); bị cáo Huy có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, quá trình sinh sống tại địa phương có đóng góp ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão YaGi; là người thực hiện tội phạm ở giai đoạn sau, số tiền giúp sức cho bị cáo Thành ít nhất, được hưởng lợi ít nhất so với các bị cáo đã bị xét xử về cùng hành vi, đồng thời bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận. Xét thấy đây là những tình tiết giảm nhẹ mới, nên cần xem xét và cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn QT là người giúp sức tích cực nhất trong số các bị cáo, tham gia đầy đủ trong tất cả các khâu theo phương thức thủ đoạn mà các bị cáo đã thống nhất để giúp các bị cáo khác hoàn thành hành vi phạm tội; số tiền nộp khắc phục hậu quả là ít nhất (3.420.000 đồng) và tại cấp phúc thẩm bị cáo đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo, nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định.

Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của các bị cáo Trần TT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH là có cơ sở để xem xét chấp nhận; bị cáo Nguyễn QT đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo tại phiên tòa nên đình chỉ xét xử phúc thẩm theo quy định. Do đó, cần sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt như quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là phù hợp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận và được đình chỉ xét xử, nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điều 348; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn QT, Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn QT có hiệu lực pháp luật.

2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần TT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, về phần hình phạt đối với bị cáo Trần TT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH.

2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 48; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1,2 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần TT 07 (bảy) năm tù, Lê VL 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, Đỗ DK 05 (năm) năm tù, đều về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với các bị cáo đều tính từ ngày 11/7/2023.

2.2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 17; Điều 38; Điều 48; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng VH 33 (ba mươi ba) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Hoàng VH cho UBND xã TX, huyện ĐP, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Các bị cáo Trần TT, Nguyễn QT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Ghi nhận các bị cáo Trần TT, Lê VL, Đỗ DK, Hoàng VH đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm tại các Biên lai thu số 0002996, 0002997 cùng ngày 11/11/2024, 0003023 ngày 10/12/2024, 0002989 ngày 28/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ