vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ch Huỳnh Th Thúy D với anh Lê Văn T.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu xin nuôi hai con chung của ch Huỳnh Th Thúy D. Giao cho ch Huỳnh Th Thúy D được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung cháu Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019. Buộc anh Lê Văn T phải cấp dưỡng cho cháu Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ch Huỳnh Th Thúy D với anh Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân s; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-4-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thiện Bửu;

2. Ông Lê Thành Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Th Kim Loan là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H ng Ng , tỉnh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồn N tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H ng Ng , tỉnh Đ ng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố H ng Ng , giữa các đương s :

- Nguyên đơn: Ch Huỳnh Th Thúy D, sinh năm 1987.

HKTT: tổ A, ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đ ng Tháp.

Đ a chỉ liên lạc: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.

- B đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1986.

Đ a chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đ ng Tháp.

- Người làm chứng: Bà Phan Th L, sinh năm 1947

Đ a chỉ: khóm A, phường A, thành phố H, Đ ng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thúy D trình bày:

 Về hôn nhân: Vào năm 2008 được s thống nhất của cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới cho ch và anh Lê Văn T, hôn nhân t tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H. Trong quá trình chung sống vợ ch ng ch hạnh phúc một thời gian đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T hay ghen tuông vô cớ thậm trí còn ghen luôn với anh ruột của mình, không lo cho gia đình vợ con hay ăn nhậu, cờ bạc, còn bạo l c với ch và khi nhậu vô gây chuyện vô cớ với vợ con. Mặc dù ch cố gắng hàn gắn để cho anh T sửa đổi nhưng anh vẫn không thay đổi nên ch có nộp đơn ly hôn nhưng do thương con nên ch rút lại đơn cho anh T cơ hội sửa đổi nhưng anh T có tính nào tật đó vẫn không thay đổi. Vợ ch ng ch đã ly thân nhau được 04 năm. Anh T nói ch nói dối về việc đi họp Chi bộ là không đúng, bữa đó ch có đi họp Chi bộ là thật khi họp xong ch đi ăn thì gặp một người lạ ng i chung bàn với ch thì anh T gặp nên nổi cơn ghen lại đánh người đó và quay sang đánh ch luôn. Từ này cam kết thì anh T vẫn không thay đổi tính tình, nhậu vô là vẫn muốn quậy nên ch mới nộp lại đơn yêu cầu ly hôn với anh T. Nay xét thấy tình cảm không còn nên ch cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T.

 Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 (hiện nay đang sống với anh T) và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 (hiện nay đang sống với ch D), ch D yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

 Về tài sản chung: T thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà chị D trình bày: Ch D cương quyết yêu cầu xin ly hôn với anh T vì nếu đoàn tụ lại thì cuộc sống vợ ch ng cũng không được hạnh phúc, do anh T không có thay đổi tánh tình, vợ ch ng đã ly thân với nhau được bốn năm nay, cuộc sống vợ ch ng nạnh ai nấy sống. Hiện nay thì ch có thuê phòng trọ gần trường để tiện đi làm và tiền đưa con đi học và nguyện vọng của cháu Như Ý cũng muốn sống với ch D sau khi cha mẹ ly hôn. Thu nhập hàng tháng của ch ngoài tiền lương bảy triệu đ ng thì ch còn bán hàng online, làm tạp vụ quét trường nên thu nhập của ch sẽ đảm bảo để nuôi hai con đầy đủ. Nên ch D cương quyết yêu cầu xin được nuôi hai con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng cho cháu Lê Duy K theo quy đ nh pháp luật.

- Bị đơn anh Lê Văn T trình bày:

 Về hôn nhân: Vào năm 2008 được s thống nhất của cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới cho anh và ch Huỳnh Th Thúy D, hôn nhân t tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H. Trong quá trình chung sống vợ ch ng anh hạnh phúc một thời gian đến ngày 24/12/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh phát hiện vợ anh không trung th c nói với anh là đi họp Chi bộ thì anh gặp ăn cơm với người khác nên anh có đánh vợ anh vài bạc tay. Mặc dù vợ ch ng còn sống chung nhưng đã ly thân (không ngủ chung) khoảng 03 đến 04 năm nay. Trong cuộc sống vợ ch ng anh cũng vài lần có bạo l c với vợ. Nhưng là do vợ anh mà ra. Nay anh còn thương vợ và con anh nên anh không đ ng ý yêu cầu ly hôn với vợ anh. Mặc dù trước đó vợ anh có nộp đơn khởi kiện và anh có làm tờ cam kết nên vợ anh có rút đơn khởi kiện. Anh xác đ nh từ lúc làm tờ cam kết đến nay. Anh không có lỗi gì mà vợ anh tiếp tục yêu cầu ly hôn nên anh không thống nhất ly hôn mà xin được đoàn tụ.

 Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 (Hiện đang sống với anh T) và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 (Hiện đang sống với ch D).

+ Về nợ chung: Không có.

Do không thống nhất ly hôn nên về con chung, tài sản chung và nợ chung anh không có ý kiến, anh yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy đ nh pháp luật.

Tại phiên toà anh T trình bày: Anh T xác đ nh việc vợ ch ng xảy ra mẫu thuẫn là có. Anh có đánh vợ vài bạc tay do có tánh hay ghen tuông nhưng do vợ có lỗi với anh trước. Nhưng anh T không có chứng cứ chứng minh ch D có lỗi. Ch D vẫn giữ tròn nghĩa vụ của con dâu với mẹ ch ng. Anh T thừa nhận cuộc sống vợ ch ng anh hiện tại không hạnh phúc vì vợ ch ng anh cũng đã ly thân với nhau bốn năm nay. Anh T thừa nhận công việc của anh thường ngày là đi làm từ năm giờ sáng đến bảy giờ tối mới về nhà nên không có thời gian chăm sóc cho vợ con. Anh T còn thương ch D nên anh không thống nhất ly hôn theo yêu cầu của ch D. Anh T cũng thành tâm xin lỗi ch D xin được đoàn tụ. Thu nhập lương hàng tháng của anh khoảng bảy triệu đ ng nhưng có khi anh chỉ mua sữa và mua đ cho con chứ ít khi anh đưa tiền cho ch D. Nếu Toà án giải quyết cho anh T và ch D ly hôn thì anh T yêu cầu nuôi hai con chung mà không yêu cầu ch D cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung: T thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Trong qua tri nh gia i quyê t vu a n, cu ng như tại phiên tòa xe t xử sơ thẩm Hô i đô ng xét xử, Thẩm pha n, Thư ký và những người tham gia tố tu ng đã th c hiện đúng các quy đ nh của pháp luật.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2, 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân s ; Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ch Huỳnh Th Thúy D với anh Lê Văn T. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ch Huỳnh Th Thúy D. Giao cho ch Huỳnh Th Thúy D được nuôi hai con chung tên Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 (hiện nay đang sống với anh T) và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 (hiện nay đang sống với ch D). Buộc anh T phải cấp dưỡng cho cháu Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 theo quy đ nh pháp luật. Về tài sản chung: T thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong h sơ, chứng cứ đã xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đ ng xét xử nhận đ nh:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H ng Ng , tỉnh Đ ng Tháp, được quy đ nh tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân s .

Về s vắng mặt của người làm chứng bà Phan Th L vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát đề ngh xét xử vắng mặt bà Phan Th L nên Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phan Th L là phù hợp với quy đ nh tại Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân s .

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ch Huỳnh Th Thúy D với anh Lê Văn T. Hội đ ng xét xử xét thấy:

- Về hôn nhân: Ch Huỳnh Th Thúy D và anh Lê Văn T có sống chung với nhau và có đăng ky kê t hôn vào năm 2008, tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, Đ ng Tháp. Nên quan hệ hôn nhân giữa ch D và anh T là hôn nhân hợp pháp. Nay ch D khởi kiện cương quyết yêu cầu xin ly hôn với anh T. Hội đ ng xét xử xét thấy: Anh T thừa nhận trong quá trình chung sống vợ ch ng anh sống hạnh phúc một thời gian đến ngày 24/12/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh phát hiện vợ anh không trung th c, nói với anh là đi họp Chi bộ nhưng anh gặp ăn cơm với người khác nên anh có đánh vợ anh vài bạc tay. Mặc dù vợ ch ng còn sống chung nhưng đã ly thân (không ngủ chung) khoảng 03 đến 04 năm nay. Trong cuộc sống vợ ch ng anh cũng vài lần có bạo l c với vợ nhưng cũng do vợ anh mà ra. Trước đó vợ anh có nộp đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn r i và anh có làm tờ cam kết nên vợ anh có rút đơn khởi kiện.

Theo xác nhận của mẹ ruột anh T là bà Phan Th L: Do ch Thúy D là cô giáo mầm non thường xuyên đi làm, anh T chạy xe thuê cho người khác, lúc cưới nhau thì Thúy D chưa có bằng nên cho đi học ở C 03 năm, sau này D về đi làm thì có bạn bè, khách khứa, anh T thì có tánh hay ghen tuông nên vợ ch ng cứ lụt đụt, cải vả thường xuyên. Do vợ ch ng Thúy D và T ở chung nhà với bà, trong cuộc sống thì đương nhiên vợ ch ng cũng có s cải vả, T cũng có chữi bới và có đánh vợ, có lần hai vợ ch ng c cải Thúy D bỏ về nhà mẹ ruột ở T sống, bà phải thuê xe xuống nhà anh ch xui để trao đổi với anh ch xui về việc hàn gắn tình cảm cho hai vợ ch ng T nhưng anh ch xui nói tụi nó lớn r i để tụi nó quyết đ nh. Do đó, từ đó đến nay Thúy D ở với mẹ ruột và ly thân với T từ trước Tết 2024 cho đến nay.

Theo Văn bản cung cấp thông tin số 233/UBND ngày 08/4/2025 của UBND phường A xác đ nh: Trong thời gian ch D và anh T sống chung với nhau, cùng ở chung nhà với mẹ ruột của anh T tại khóm A, phường A, thành phố H, hai bên có phát sinh mâu thuẫn về lối sống giữa hai vợ ch ng, mỗi người một cách nghĩ khác nhau, làm cho tình cảm vợ ch ng không được đầm thắm như xưa. Từ tháng 12 năm 2024 ch D và anh T ly thân với nhau cho đến nay. Chi Duy hiện đang sinh sống, làm việc tại Trường tiểu học T1, huyện H, Đ ng Tháp.

Mặc dù, anh T còn thương ch D, anh không đ ng ý ly hôn theo yêu cầu của ch D. Tuy nhiên tại phiên toà anh T thừa nhận việc vợ ch ng anh xảy ra mẫu thuẫn là có. Anh có đánh ch D vài bạc tay do có tánh hay ghen tuông vì ch D có lỗi với anh trước. Nhưng anh T không có chứng cứ chứng minh ch D là người có lỗi. Việc anh T có đánh đập ch D được xem là có hành vi bạo l c gia đình theo khoản 1 Điều 2 và khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo l c gia đình. Việc anh T có hành vi bạo l c gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, vào tháng 01/2025 ch D cũng đã khởi kiện xin ly hôn với anh T một lần nhưng đến nay vẫn không khắc phục được gì, không tạo cho nhau điều kiện để đòan tụ cho cuộc sống vợ ch ng hạnh phúc hơn mà nạnh ai nấy sống, tình cảm vợ ch ng không còn. Nên việc ch D cương quyết xin ly hôn với anh T là hoàn toàn có căn cứ. Do đó, nếu tạo điều kiện cho vợ ch ng sống đoàn tụ thì cuộc sống vợ ch ng ch D và anh T cũng không hạnh phúc nên Hội đ ng xét xử xét thấy: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ch Huỳnh Th Thúy D là hoàn toàn phù hợp theo quy đ nh pháp luật.

- Về con chung: Cháu Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 (hiện nay đang sống với anh T) nhưng cháu có nguyện vọng được sống với ch D khi cha mẹ lý hôn và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 (hiện nay đang sống với ch D), hằng ngày theo ch D đi làm và ch D cho đi học. Công việc của anh T là tái xế láy xe thuê cho người khác, công việc của anh T thường ngày là đi làm từ năm giờ sáng đến bảy giờ tối mới về nhà nên không có thời gian chăm sóc cho con. Thời gian nào anh T rước cháu K về nhà chơi là cháu K phải nghỉ học. Còn ch D là cô giáo, nguyện vọng của cháu Như Ý là muốn sống với ch D, còn cháu Duy K còn nhỏ và đang sống với ch D. Hiện nay ch D cũng đã thuê phòng trọ gần trường tiện để ch đi làm và đưa con đi học. Thu nhập của ch D từ lương, bán hàng online và tạp vụ trong trường cũng đủ để đảm bảo chi tiêu cho ch và các con trong cuộc sống hàng ngày. Nên xét thấy điều kiện tr c tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con của ch D sẽ tốt hơn anh T. Do đó, Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi hai con chung của ch D. Giao cho ch D được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung cháu Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019. Buộc anh T phải cấp dưỡng cho cháu Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 theo quy đ nh pháp luật mỗi tháng bằng ½ tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4/2025 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi và t lao động sinh sống được. Ch Huỳnh Th Thúy D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Lê Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục hai con chung là hoàn toàn phù hợp theo quy đ nh pháp luật.

- Về tài sản chung: T thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H ng Ng là có căn cứ chấp nhận như nhận đ nh trên.

Về án phí sơ thẩm: Buộc ch Huỳnh Th Thúy D phải ch u tiền án phí dân s hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ ng, được khấu trừ 300.000đ ng tiền tạm ứng án phí theo quy đ nh pháp luật. Ch Huỳnh Th Thúy D không phải nộp thêm.

Buộc anh Lê Văn T phải ch u 300.000đ ng tiền án phí cấp dưỡng theo quy đ nh pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 2 và 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân s ; Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 2 và khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo l c gia đình; Đ a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy đ nh về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ch Huỳnh Th Thúy D với anh Lê Văn T.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu xin nuôi hai con chung của ch Huỳnh Th Thúy D. Giao cho ch Huỳnh Th Thúy D được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung cháu Lê Th Như Ý, sinh ngày 23/04/2009 và Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019.

Buộc anh Lê Văn T phải cấp dưỡng cho cháu Lê Duy K, sinh ngày 26/01/2019 mỗi tháng bằng ½ tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4/2025 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi và t lao động sinh sống được.

Ch Huỳnh Th Thúy D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Lê Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục hai con chung.

3. Về tài sản chung: T thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đ ng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Buộc ch Huỳnh Th Thúy D phải ch u tiền án phí dân s sơ thẩm hôn nhân gia đình là 300.000đ ng, được khấu trừ 300.000đ ng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0690 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân s thành phố H ng Ng , tỉnh Đ ng Tháp.

Buộc anh Lê Văn T phải ch u 300.000đ ng tiền án phí cấp dưỡng.

6. Các đương s có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ