vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Bé T đối với anh Nguyễn Hoàng P. Cho chị T được ly hôn với anh P.

2- Về con chung: Giao 02 người con chung là Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 13/8/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 03/11/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Bé T đối với anh Nguyễn Hoàng P. Cho chị T được ly hôn với anh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2025
Về việc ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ và bà Phạm Thanh Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/3/2025, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bé T, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Chị T có mặt, anh P vắng mặt lần hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Năm 2018 chị T và anh P kết hôn, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống phát hiện anh P đam mê cờ bạc, rượu chè, gái gú, làm có tiền bao nhiêu cũng nướng hết vào sòng bạc, không quan tâm chia sẻ với vợ con. Tuy vậy, chị T cũng cố gắng chịu đựng, làm được bao nhiêu tiền đều đưa hết cho anh P vì cũng muốn níu kéo gia đình nhưng thời gian kéo dài anh P vẫn không từ bỏ. Khi chị T quyết định ly hôn thì anh P kêu làm đơn anh về giải quyết. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh P.

Trong thời gian chung sống có 02 người con chung là Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 13/8/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 03/11/2022. Hiện các con do chị T nuôi. Khi ly hôn chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Chị T trình bày không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

[2]- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh P vắng mặt nên không có lời trình bày.

[3]- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn là anh P đã được triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T và giao 02 người con cho chị T nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị T yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T yêu cầu được ly hôn và yêu cầu giải quyết quyền nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn và nuôi con”.

Bị đơn là anh P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh P hai lần để tham gia phiên tòa nhưng anh P vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo quy định.

Về hôn nhân: Năm 2018 anh P và chị T đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân khoảng hơn một năm.

Xét thấy, anh chị mâu thuẫn thời gian dài, hiện nay không sống chung với nhau nữa. Anh chị là vợ chồng nhưng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau là vi phạm Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh P vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh P không đến dự, không thể hiện ý kiến và nguyện vọng của mình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho chị T được ly hôn với anh P.

Về con chung: Anh chị có hai người con chung là Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 13/8/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 03/11/2022, đang sống chung với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

Xét thấy, từ trước đến nay hai người con sống chung với chị T, được nuôi dạy tốt, hiện tại chị T đủ điều kiện nuôi con và chị T yêu cầu nuôi con, anh P không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị T, giao hai người con cho chị T nuôi dưỡng.

Cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của chị T nhưng chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị T trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu gì khác; anh P cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Như vậy, chị T phải chịu án phí là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 92, 147, 207, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Bé T đối với anh Nguyễn Hoàng P. Cho chị T được ly hôn với anh P.

2- Về con chung: Giao 02 người con chung là Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 13/8/2020 và Nguyễn Phúc T1, sinh ngày 03/11/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Bé T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005164 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

4- Nguyên đơn là chị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là anh P vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ