vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của anh Lò Văn H đối với chị Lò M.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lò Văn H ly hôn chị Lò M. Về con chung: Giao cháu Lò Thị N, sinh ngày 04/3/2018 và Lò G, sinh ngày 25/6/2021 cho anh Lò Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của anh Lò Văn H đối với chị Lò M.
  • Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày 19- 8 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Điệp

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Cường;

2. Ông Lò Văn Chung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 79/2025/TLST – HNGĐ, ngày 17/3/2025 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXX - ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 và theo Quyết định hoãn phiên toà số 10/QĐ-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lò Văn H, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Bản T, xã Bó Sinh, tỉnh Sơn La (trước là Bản T, xã E, huyện D, tỉnh Sơn La). Có mặt.

- Bị đơn: Chị Lò M, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Bản T, xã Bó Sinh, tỉnh Sơn La (trước là Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lò Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị M kết hôn năm 2020 trên cơ sơ tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đứa Mòn, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn sống chung hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ không chung thuỷ trong hôn nhân có tình cảm với người khác, anh và chị M đã ly thân từ ngày 22/12/2024 cho đến nay, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết cho anh ly hôn với chị Lò M.

Về con chung: Anh H và chị M có với nhau hai người con chung là Lò Thị N, sinh ngày 04/3/2018 và Lò G, sinh ngày 25/6/2021 hiện đang do anh trực tiếp nuôi dưỡng anh có nguyện vọng nuôi cả hai con chung không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con cùng.

Về tài sản chung: Không kê khai, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Anh H cam đoan anh và chị M không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập chị Lò M hợp lệ nhiều lần nhưng chị M đều không có mặt, do vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị M đối với nội dung khởi kiện của anh H.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị M tại địa phương, xác định: Anh H và chị M có đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, trong thời kỳ hôn nhân sinh sống tại Bản T, xã Chiềng En, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn giữa anh H và chị M là do bất đồng quan điểm sống, kể từ khi mâu thuẫn chị M đã bỏ về nhà ở với bố mẹ đẻ tại bản Đứa Mòn, xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La (nay là bản Đứa Mòn, xã Mường Lầm, tỉnh Sơn La).

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Sơn La tại phiên toà:

- Về tố tụng: Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án của Toà án nhân dân huyện Sông Mã (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La) tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

- Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lò Văn H xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con với chị Lò M.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lò Văn H ly hôn chị Lò M.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị N, sinh ngày 04/3/2018 và Lò G, sinh ngày 25/6/2021 cho anh Lò Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lò M không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Hơn. Chị Lò M quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không được ai cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lò Văn H khai không có nợ chung, không kê khai, không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Chị Lò M không có ý kiến, không có mặt tại Toà án để trình bày ý kiến do vậy không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí: Miễn án phí Dân sự sơ thẩm cho anh Lò Văn May theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự có mặt tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Sơn La, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về pháp luật tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Anh Lò Văn H khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết việc Ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với chị Lò M nên xác định quan hệ pháp luật là Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chị Lò M cư trú tại xã Chiềng En, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ( nay là xã Bó Sinh, tỉnh Sơn La), do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Sông Mã theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; nay Toà án nhân dân khu vực 3 – Sơn La tiếp nhận giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 6 của Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án.

- Về thủ tục hoà giải theo tố tụng: Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không có mặt để hoà giải, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn chị Lò M đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Lò Văn H và chị Lò M kết hôn hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đứa Mòn, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La (nay là Uỷ ban nhân dân xã Mường Lầm, tỉnh Sơn La) vào ngày 30/7/2020. Căn cứ Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Hơn và chị May là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trong quá trìnhp giải quyết vụ án thấy:

Cuộc sống hôn nhân giữa anh Lò Văn H và chị Lò M có mâu thuẫn, hiện tại anh Hơn và chị May không còn tồn tại cuộc sống chung, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Căn cứ vào Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình xét thấy tình trạng hôn nhân của anh Hơn và chị May đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho anh Hơn ly hôn chị May là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Lò Văn H và chị Lò M có hai người con chung là Lò Thị N, sinh ngày 04/3/2018 và Lò G, sinh ngày 25/6/2021, kể từ khi sống ly thân cả hai người con đều do anh Hơn trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, anh Lò Văn H có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị Lò M cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến của con chung Lò Thị N có nguyện vọng muốn được sống cùng bố Lò Văn H. Xét ý kiến của nguyên đơn và nguyện vọng con chung là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do vậy, để không gây xáo trộn cuộc sống và quyền được sống với người trực tiếp nuôi dưỡng của trẻ nhỏ cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H khai không có nợ chung, tài sản chung không kê khai nên không yêu cầu Tòa giải quyết, chị M không cho ý kiến gì do vậy Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được Tòa án giải quyết tại vụ án khác.

Về án phí: Anh Lò Văn H là nguyên đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm, tuy nhiên anh Lò Văn H thuộc diện hộ nghèo và là dân tộc thiểu số sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí được Toà án chấp nhận. Do vậy, được miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án.

Căn cứ vào Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con của anh Lò Văn H đối với chị Lò M.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lò Văn H ly hôn chị Lò M.

- Về con chung: Giao cháu Lò Thị N, sinh ngày 04/3/2018 và Lò G, sinh ngày 25/6/2021 cho anh Lò Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lò M không phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Lò Văn H. Chị Lò M quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không được ai cản trở.

2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm cho anh Lò Văn H.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Lò Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Lò M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ