vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/8/2019. Giao cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Quyết T, sinh ngày 09/8/2014 và Nguyễn Thu H, sinh ngày 06/6/2016, kể từ khi vợ cH ly hôn cho đến khi con chung thành niên (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N xin ly hôn anh S"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17/01/2025.
V/v: “Tranh chấp về
Hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ-TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú và ông Nguyễn Văn Trò

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hải – Thẩm phán Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện CKhê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8b/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST – HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1994

Địa chỉ: Khu L, xã Tnay là xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1986

Địa chỉ: Khu L, xã Tnay là xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ

(Chị N có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh S vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/11/2012 tại UBND xã Tnay là xã P, huyện CKhê, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu, sau khi kết hôn vợ chồng sống tại khu L, xã Tnay là xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình chung sống, tình cảm vợ cH hoà thuận hạnh phúc đến tháng 6 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh S rượu chè, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi bất hoà. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh S đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2024, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ cH không thể khắc phục được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị N và anh S có 03 con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 09/8/2014, Nguyễn Thu H, sinh ngày 06/6/2016 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/8/2019. Hiện nay cháu T cháu H đang ở cùng anh S, cháu K đang ở cùng với chị N. Khi ly hôn, chị N xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đăng K, đề nghị anh S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quyết T và Nguyễn Thu H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị N không yêu cầu giải quyết.

2. Phía bÞ ®¬n anh Nguyễn Văn S: Toà án nhân dân huyện CKhê đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, báo anh S đến làm việc nhiều lần nhưng anh S đều vắng mặt, do vậy hồ sơ không thể hiện quan điểm của anh S.

3. Tại biên bản ghi lời trình bày của ông Nguyễn Văn C(bố đẻ anh S), ông Ccho biết như sau: Anh S là con trai ông, chị N là con dâu. Chị N và anh S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T nay là xã P, huyện Cẩm Khê. Quá trình chung sống của chị N và anh S, theo ông được biết thì có xảy ra mâu thuẫn do chị N nói với ông là anh S không quan tâm đến gia đình vợ con nên chị muốn ly hôn. Sau đó ông cùng gia đình chị N cũng khuyên bảo, động viên, hoà giải cho chị N và anh S nhưng không có kế quả. Từ tháng 1 năm 2024 chị N đã thuê nhà ở riêng, vợ cH sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Hiện nay anh S đang làm công nhân tại công ty Y- DA, địa chỉ: Thị trấn Cẩm Khê, huyện Cẩm Khê. Hàng ngày đều đi đi về về nhưng không được nghỉ làm những ngày hành chính. Các văn bản tố tụng do Toà án tống đạt, ông Cnhận thay và cam kết giao lại cho anh S.

Về con chung: Chị N và anh S có 03 con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 09/8/2014, Nguyễn Thu H, sinh ngày 06/6/2016 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/8/2019. Hiện nay cháu T cháu H đang ở cùng anh S, cháu K đang ở cùng với chị N. Nếu chị N và anh S ly hôn, ông đề nghị giữ nguyên việc nuôi con chung như hiện nay để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định, việc học tập không bị xáo trộn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quyết T, sinh ngày 09/8/2014, Nguyễn Thu H, sinh ngày 06/6/2016. Giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/8/2019. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng dân sự:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Nguyễn Văn S có hộ khẩu thường trú tại khu L, xã Tnay là xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CKhê, tỉnh Phú Thọ.

. Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Chị N có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt. Bị đơn anh S đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh S vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê T hành xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N và anh Nguyễn Văn S kết hôn ngày 05/11/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND Tnay là xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Hôn nhân giữa chị N và anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện do đó là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của chị N, ông Cbố anh S và việc xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh S tại UBND xã Tnay là xã P thì xác định được Hôn nhân của chị N và anh S có mâu thuẫn xảy ra và hiện đang sống ly thân, không liên lạc, không quan tâm đến nhau, nguyên nhân do vợ cH bất đồng về quan điểm sống dẫn đến xảy ra tranh cãi, bất hoà. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ cH trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã T hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh S đến Toà án làm việc, trình bày quan điểm ý kiến cũng như hòa giải quan hệ hôn nhân nhưng anh S đều vắng mặt, thể hiện anh S không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ cH. Do vậy cần xử cho chị N được ly hôn anh S là phù hợp thực tế và đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị N và anh S có 03 con chung Nguyễn Quyết T, sinh ngày 09/8/2014, Nguyễn Thu H, sinh ngày 06/6/2016 và Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/8/2019. Hiện nay cháu T, cháu H đang ở cùng anh S, cháu K đang ở cùng với chị N. Mặc dù quá trình giải quyết anh S không đến làm việc, không có quan điểm của anh S về con chung nhưng anh S làm công nhân tại huyện CKhê, hằng ngày vẫn đi về nhà để chăm sóc các con chung. Chị N và anh S đều đủ điều kiện nuôi con. Cháu T và cháu H hiện đang ở với anh S, đều trên 7 tuổi, có nguyện vọng ở với bố cũng như chị N đã không còn ở chung với anh S từ tháng 02 năm 2024. Do vậy, để ổn định chỗ ăn ở, thuận lợi cho việc học tập và sự phát triển về mọi mặt của con chung cần giao cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, cháu H. Giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai là phù hợp.

. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị N không yêu cầu giải quyết nªn Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt.

. Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

[2]. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/8/2019. Giao cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Quyết T, sinh ngày 09/8/2014 và Nguyễn Thu H, sinh ngày 06/6/2016, kể từ khi vợ cH ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

Các bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Bùi Thị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0005014 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CKhê. Xác nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết bản án để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ