vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Ánh T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Ánh T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh M. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Gia K, sinh ngày 24/12/2022. Tiếp tục giao con chung cho chị Tchăm sóc, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Ánh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13/01/2025
V/v Tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Phước Tường.

- Ông Trần Văn Nhu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Liêu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 588/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Ánh T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh M (D), sinh năm 1997.

Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T.

(chị Tcó mặt, anh Mvắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Ánh T trình bày:

Trên cơ sở quen biết và được gia đình cha mẹ hai bên đồng ý nên chị và anh Mtiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T theo giấy chứng nhận kết hôn số 152, ngày 17/11/2022.

Trước đây, vào năm 2017 chị và anh M đã đăng ký kết hôn và cũng đã ly hôn theo quyết định của Toà án. Sau đó quay lại sống chung với nhau vào năm 2022 nhưng được một thời gian thì tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, thường hay cãi nhau và bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh M không quan tâm chăm sóc vợ con, do đam mê cờ bạc nên nợ nần, tự ý bỏ nhà đi từ tháng 02/2024 và vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay, vào tháng 4/2024 chị đã nộp đơn xin ly hôn với anh M tại Toà án nhân dân huyện Cái Bè nhưng vì muốn cho anh M cơ hội nên chị đã rút đơn và được Toà án ra quyết định đình chỉ số 168/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 26/6/2024, sau khi rút đơn cho đến nay anh M vẫn không thay đổi và cũng không liên lạc về thăm vợ con, chị nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên chị khởi kiện xin ly hôn với anh M.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh M.

- Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh Gia K, sinh ngày 24/12/2022. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh M: Đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án và cũng không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tuyết.

Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như trên. Anh M vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về việc vắng mặt đương sự: Anh Nguyễn Thanh M là bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng anh vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tuyết, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh trong vụ án này.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ: Xét thấy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn với anh M, yêu cầu được nuôi con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh M có nơi cư trú tại huyện Cái Bè nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung của vợ chồng nên xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tòa án nhân dân huyện Cái Bè đã thụ lý vụ án và đã tiến hành các thủ tục pháp lý triệu tập đương sự đến Tòa án để tự khai; tiến hành phiên họp kiểm tra, việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân:

Xét thấy, chị T và anh M kết hôn trên cơ sở quen biết tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 152, ngày 17/11/2022 nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ và cương quyết xin ly hôn với anh M.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy trong đời sống hôn nhân giữa chị T và anh M đã xảy ra mâu thuẫn. Cụ thể vào tháng 4/2024 chị T đã nộp đơn xin ly hôn với anh M tại Toà án nhân dân huyện Cái Bè nhưng vì muốn cho anh M cơ hội nên chị đã rút đơn và được Toà án ra quyết định đình chỉ số 168/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 26/6/2024, sau khi rút đơn cho đến nay anh M vẫn không thay đổi và cũng không liên lạc về thăm vợ con. Anh M là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do, anh cũng không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với vụ kiện, như vậy chứng tỏ anh M cũng không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng giữa anh và chị T và xem như anh đã từ bỏ quyền bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa chị T và anh M đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Thanh Gia K, sinh ngày 24/12/2022. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi chung không yêu cầu anh Mcấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy con chung hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng chị sống ly thân cho đến nay đã ổn định, hơn nữa cháu Khang sinh ngày 24/12/2022 hiện nay chưa tròn 36 tháng tuổi cần được mẹ quan tâm chăm sóc, để tránh việc làm xáo trộn tình cảm của con nên việc giao cháu K cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T xác định là không có.

Về nợ chung: Chị T xác định là không có.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Ánh T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc Ánh T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh M.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Gia K, sinh ngày 24/12/2022. Tiếp tục giao con chung cho chị Tchăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T xác định là không có.

Về nợ chung: Chị T xác định là không có.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc Ánh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0016020 ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị T đã thi hành xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ