vanban.org

Bản án 17/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Trần Hưng T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/11/2001).

Về con chung: Ông Trần Hưng T giao cháu Trần Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 25/11/2009 cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị S và ông Trần Hưng T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị S - Trần Hưng T tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Trần Hưng T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/11/2001).
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST
Ngày 26-5-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bồ Quốc Khánh;

2. Ông Đoàn Văn Lước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thu Hồng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1982; thường trú: Tổ G, ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Hưng T, sinh năm 1981; thường trú: Tổ G, ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Phòng 2A, Nhà trọ H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 7 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Trần Hưng T tự nguyện tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương vào năm 2001. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sinh sống và làm việc tại huyện B cho đến nay. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, vợ chồng không có sự tôn trọng, không có sự tin tưởng nhau, ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác và dọn ra ngoài sinh sống từ năm 2024 cho đến nay không về nhà. Bà S đã nhiều lần cho ông T cơ hội để sửa chữa bản thân nhưng ông T không thay đổi. Mâu thuẫn kéo dài dẫn đến việc bà S không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung, cháu Trần Hưng Quốc T1, sinh ngày 26/10/2001 và cháu Trần Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 25/11/2009. Sau khi ly hôn, bà S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Cẩm T2 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu Trần Hưng Quốc T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phía bị đơn ông Trần Hưng T:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu ông Trần Hưng T có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà S nhưng ông T không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 18/4/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hôn nhân, bà Nguyễn Thị S và ông Trần Hưng T có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết con chung là có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn làm việc nhưng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 06/5/2025 và ngày 26/5/2025 nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S và ông Trần Hưng T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương vào năm 2001, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01 ngày 26/10/2001 nên quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị S và ông Trần Hưng T là hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị S xác định cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, không có sự tin tưởng, ông T không chung thuỷ, có mối quan hệ với người phụ nữ khác, không chăm lo cho vợ con, mẫu thuẫn kéo dài dẫn đến việc bà S không còn tình cảm và không muốn sống chung với ông T. Bản thân ông T sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hòa giải mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bị đơn không có mặt, vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, điều này chứng tỏ bị đơn không muốn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua đó thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng của bà S đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Nguyễn Thị S yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung, cháu Trần Hưng Quốc T1, sinh ngày 26/10/2001 và cháu Trần Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 25/11/2009. Cháu Trần Hưng Quốc T1 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu Trần Nguyễn Cẩm T2 hiện đang sống cùng với bà S. Tại bản tự khai gửi Toà án cháu có nguyện vọng được sống cùng bà S. Ông T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, xét nên giao con chung cho bà S nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và quy định của pháp luật.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Trần Hưng T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/11/2001).

2. Về con chung: Ông Trần Hưng T giao cháu Trần Nguyễn Cẩm T2, sinh ngày 25/11/2009 cho bà Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị S và ông Trần Hưng T đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì quyền lợi hợp pháp của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003921 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ