vanban.org

Bản án 17/2025/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 15/05/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều , Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 236 của Luật đ t đai năm 2024; các điều 166, 197, 199, 221 của Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội.

[2] Ch p nhận y u cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Lê Thị L đối với bị đơn ông Lê Văn D. Buộc ông Lê Văn D trả cho bà Lê Thị L phần đ t có diện tích 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Mục đích sử dụng đ t: Đ t chuyên trồng lúa nước. Đ t có tứ cận và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều , Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 236 của Luật đ t đai năm 2024; các điều 166, 197, 199, 221 của Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 197 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 17/2025/DS-ST
Ngày 19/02/2025
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

-.Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Thị Bích Vân.

Bà Võ Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thành Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm C khai vụ án dân sự thụ lý số 360/2024/TLST–DS ngày 16 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 20/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thị L, sinh năm 1

Địa chỉ: p A, A, huyện B, tỉnh B.

Ngư i đại diện theo ủy quyền của nguy n đơn: Bà Thị C, sinh năm 1

Địa chỉ: p A, A, huyện B, tỉnh B (có mặt)

Bị đơn: Ông Văn D, sinh năm 1 0 Địa chỉ: p A, A, huyện B, tỉnh B.

Ngư i đại diện theo ủy quyền của ị đơn: Bà Nguy n Thị Y, sinh năm 1 5 Địa chỉ: p A, A, huyện B, tỉnh B. (vắng mặt)

Ng i c uyền i ngh a vụ iên uan:

1 Ông Văn T, sinh năm 1 5 (vắng mặt)

2 Ông Văn L, sinh năm 1 4 (vắng mặt)

Ông Văn Q, sinh năm 1

(vắng mặt)

4 Bà Thị C, sinh năm 1

(có mặt)

C ng địa chỉ: p A, A, huyện B, tỉnh B.

Ngư i đại diện theo ủy quyền của bị đơn à Nguy n Thị Y và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn T, ông Văn L, ông Văn Q vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, ản tự khai, i n ản hòa giải và tại phi n tòa ngư i đại diện theo ủy quyền nguy n đơn cũng là ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị C trình bày:

Phần đ t bà Lê Thị L tranh ch p với ông Văn D thuộc thửa đ t số 544, t bản đồ số 14 (trước đây là thửa đ t số 340, t bản đồ số 8), diện tích theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t là 569,9m2 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh B có nguồn gốc là của bà L được Nhà nước c p đ t định su t theo bình quân nhân khẩu nhưng do mẹ ruột bà Hồ Thị C là ngư i đại diện bà L đăng ký k khai quyền sử dụng đ t, được Ủy ban nhân dân huyện B c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 22/12/2015. Năm 1 0, hộ gia đình trong đó có à L được Tập đoàn 0 p A, xã A, huyện B, tỉnh B c p đ t định su t chung cho 05 nhân khẩu gồm cha mẹ bà là ông Văn C, bà Hồ Thị C, bà và hai ngư i em là ông Văn D, bà Lê Thị L; mỗi nhân khẩu được c p , sào đ t (tương đương 0m2) Đ t định su t mà 05 nhân khẩu được c p chung, cùng tọa lạc tại p A, xã A, chứ không phân định cụ thể vị trí đ t được c p cho từng nhân khẩu trong hộ. Theo đó, đ t được c p ở ba vị trí gồm: thứ nh t là phần đ t hiện đang có nhà của ông Văn Q phía trước, phía sau là nhà bà; thứ hai là phần đ t ruộng mà ông Văn D đang quản lý sử dụng; thứ ba là phần đ t hiện đang tranh ch p giữa bà L với ông D, hiện ông D là ngư i tạm quản lý sử dụng đ t này. Tại th i điểm được Tập đoàn c p đ t thì do được c p chung nên tự gia đình đ phân chia với nhau. Th i điểm đó, ông D được hưởng vị trí đ t tốt nh t mà tập đoàn c p cho hộ, đó là đ t ruộng để canh tác trồng lúa nuôi cha mẹ với diện tích khoảng 2,2 công (2.200m2), ông Q mặc d không được Tập đoàn c p đ t định su t (do th i điểm đó ông Q đi làm thương nghiệp) nhưng được bà C cho lại một phần đ t trong định su t của bà C diện tích khoảng hơn 450m2 và bà được gia đình chia cho phần đ t vị trí phía sau nhà ông Q. Đ t định su t được tập đoàn c p thì tự gia đình đ tự phân chia với nhau từ lâu, ai cũng có phần, tại th i điểm phân chia thì ai cũng đồng ý với phần đ t mà mình được chia nên đ tự làm thủ tục đăng ký k khai và được đứng tên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t mình được hưởng, cụ thể: bà đ được đứng tên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 04/10/2011 đối với thửa đ t số 922 t bản đồ số 08; ông Q cũng đ đứng tên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t được mẹ cho; ông D cũng đ đứng tên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t định su t mà ông D được c p, thêm trọn phần định su t của cha và một phần trong định su t đ t của mẹ. Bà C đ cho ông D một phần đ t trong định su t của bà C, phần đ t định su t còn lại thì bà C đ cho ông Q. Việc cá nhân của bà C đứng tên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với thửa 544, t bản đồ số 14, diện tích 569,9m2 chỉ là đứng tên thay cho phần định su t của bà L chưa được nhận, toàn ộ đ t này là c p theo định su t n n không phải đ t của ông à cha mẹ n n việc cha mẹ đ cho phần định su t của cha mẹ thì ngoài ra cha mẹ không có quyền quyết định đối với phần đ t định su t còn lại n n bà ác định thửa đ t này không phải là di sản của mẹ chết để lại. Chỉ riêng bà L (em út) là chưa được nhận phần đ t định su t mà bà L được Tập đoàn c p. Hiện phần đ t bà L được c p định su t theo sự phân chia của gia đình trước đây (phù hợp với ý nguyện của cha) là do ông D tạm quản lý sử dụng. Sau khi mẹ chết, bà L đ làm thủ tục thừa kế để sang tên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t từ mẹ sang cho bà L thì ông D ngăn cản nên không thực hiện thủ tục sang t n được Do đó, à L đ khởi kiện yêu cầu ông D phải giao trả trọn thửa đ t số thửa 544, t bản đồ số 14 (trước đây là thửa đ t số 340, t bản đồ số 08), tọa lạc tại p A, xã A, huyện B, tỉnh B cho bà L Đồng th i, đề nghị Tòa án kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t nêu trên từ mẹ bà Hồ Thị C sang cho bà L đứng tên.

Về phần à đ nhận được định su t mà Nhà nước c p, hiện phần đ t à được nhận có diện tích thực tế là 992,9m2 thuộc thửa số 330, t bản đồ số 20 tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bà cũng đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L. Do bà L chưa được nhận phần đ t định su t mà bà L được Tập đoàn c p, ngoài ra bà L cũng không được thừa hưởng phần đ t nào khác nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết ch p nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.

Theo Biên bản làm việc, Biên bản hòa giải, bị đơn và ngư i đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Năm 1990, hộ gia đình chồng bà là ông D được tập đoàn c p đ t định su t chung cho 05 nhân khẩu gồm cha mẹ chồng là ông Văn C, bà Hồ Thị C, chị chồng là bà Lê Thị C, em chồng là bà Lê Thị L và chồng bà ông Văn D; mỗi nhân khẩu được c p , sào đ t (tương đương 0m2) Đ t định su t mà 05 nhân khẩu được c p là chung ở a vị trí, cùng tọa lạc tại p A, xã A, chứ không phân định cụ thể vị trí đ t được c p cho từng nhân khẩu trong hộ, sau khi được c p đ t thì hộ gia đình tự phân chia với nhau Cụ thể:

+ Thứ nh t là phần đ t hiện đang có nhà của ông Văn Q phía trước, mặc d ông Q không được c p đ t định su t, nhưng phần đ t này ông Q được hưởng là do mẹ là à C l y một phần đ t trong định su t của gia đình được tập đoàn c p thì khi đó chồng à là D cũng đồng ý, theo ý của à C thì phần đ t còn lại là của à C và à L c ng được hưởng chung em như là phần định su t của à C và à L, hiện đang có nhà của à C.

+ Thứ hai là phần đ t ruộng mà ông Văn D đang quản lý sử dụng là phần đ t ông D được c p định su t, thêm trọn phần định su t của cha là ông Cật và một phần trong định su t đ t của mẹ là bà C. Phần đ t này nay là thửa đ t số 110, t ản đồ số 1 , tọa lạc tại p A, A có diện tích 2.848,8m2 (trong đó có khoảng 20m2 là phần đ t ông D nhận chuyển nhượng đ t từ ông Văn Thông) hiện ông D đứng t n gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 22/12/2015

+ Thứ ba là phần đ t hiện đang tranh ch p giữa bà L với ông D, hiện ông D là ngư i quản lý sử dụng đ t này do trước khi chết mẹ có nói để cho ông D trồng c

Đối với phần đ t đang tranh ch p thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, diện tích 569,9m2 tọa lạc tại xã A do bà C khi chết để lại cho các con nên trước đây ông Lê Văn Q, ông Văn T, ông Văn D có ý định chia thừa kế nhưng nay ông Q, ông T không có yêu cầu chia thừa kế nên ông D cũng không y u cầu chia thừa kế đối với phần đ t trên. Việc bà L yêu cầu nhận phần lại phần đ t nói trên do bà L cho rằng đây là phần định su t mà à được Nhà nước c p nhưng chưa nhận thì về phía ông D cũng đồng ý và không có ý kiến gì Nhưng việc thực hiện các thủ tục pháp lý đối với thửa đ t nói trên thì bà L và những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại tự thực hiện ông D không tham gia. Ông D cũng từ chối tham gia tố tụng trong vụ án này và đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt ông D.

Theo Biên bản làm việc ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Văn Q trình bày:

Th i điểm Nhà nước c p đ t định su t thì do ông đi làm thương nghiệp nên không được c p đ t định su t Do đó, ông không nắm được việc Nhà nước c p đ t cho gia đình của ông gồm bao nhiêu nhân khẩu, chỉ biết mỗi nhân khẩu được c p hơn 0 sào đ t. Tổng diện tích đ t được c p chung theo ông biết ở 03 vị trí khác nhau, tuy nhiên diện tích đ t cụ thể thì ông không biết. Theo ông biết thì đ t được c p ở 03 vị trí gồm: phần thứ nh t là đ t ruộng hiện do ông D đang quản lý, sử dụng; phần thứ hai là đ t hiện có nhà của ông, phía sau là phần đ t có nhà của bà C thì từ trước đến nay bà C ở chung với bà L; phần thứ ba là phần đang tranh ch p giữa ông D và bà L Đối với phần đ t ông được gia đình cho hiện đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vào ngày 20/10/2007 là thửa số 1267, t bản đồ số 08, diện tích 462m2, mục đích sử dụng: đ t lúa. Ngày 15/6/2011 đ chuyển mục đích sử dụng sang đ t ở với diện tích 140m2, phần còn lại là đ t lúa Đối với phần đ t bà L đang tranh ch p với ông D thì ông không có ý kiến hay tranh ch p gì, do ông đ được gia đình cho một phần đ t được c p theo định su t. Phần đ t đang tranh ch p vẫn còn đứng tên mẹ ruột là bà C, nếu Tòa án có phân chia theo thừa kế thì ông cũng không nhận, không có tranh ch p đối với phần đ t này. Các anh em tự tính toán giải quyết, phân chia ông không có ý kiến. Ông cũng không iết là bà L đ được nhận hay chưa được nhận phần định su t của bà L được Nhà nước c p. Do ông không có yêu cầu hay tranh ch p gì trong vụ án này n n ông in Tòa án cho ông được từ chối tham gia tố tụng, yêu cầu Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt ông.

Theo các biên bản làm việc ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T trình bày:

Phần đ t đang tranh ch p giữa bà L và ông D thuộc thửa 544, t bản đồ số 14 là do mẹ ruột ông là bà Hồ Thị C đứng tên trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Theo ông thì phần đ t này ngư i được hưởng là ông Văn Q sẽ phù hợp hơn do ông Q là ngư i phụng dưỡng bà C lúc tuổi già, lo tang l , th cúng mẹ Nhưng nếu ông Q có ý kiến từ chối nhận phần đ t này thì ông cũng không có ý kiến gì. Ông ác định không tranh ch p cũng không y u cầu chia thừa kế đối với phần đ t này. Việc bà L yêu cầu được nhận thửa đ t 544, t bản đồ số 14 vì bà L cho rằng đây là đ t c p theo định su t mà bà L được hưởng thì ông cũng không có ý kiến. Việc thực hiện thủ tục pháp lý đối với thửa đ t này thì ông không tham gia, tự bà L và những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác tự thực hiện Ông đề nghị Tòa án cho ông từ chối tham gia tố tụng và đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt ông.

Theo Văn ản từ chối tham gia tố tụng của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Văn L trình bày:

Việc bà L tranh ch p với ông D phần đ t thuộc thửa đ t số 544, t bản đồ số 14 (trước đây là thửa đ t số 340, t bản đồ số 8), tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre thì ông không có ý kiến gì, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết vụ án này theo quy định của pháp luật. Do ông không có tranh ch p hay yêu cầu gì nên xin từ chối tham gia tố tụng trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa căn cứ vào các Điều 247, 248, 249, 258, 260 Bộ Luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 239, 243 Bộ Luật tố tụng dân sự. Thư ký phi n tòa thực hiện theo đúng, đầy đủ quy định tại Điều 237 Bộ Luật tố tụng dân sự và các văn ản quy phạm pháp luật có liên quan. Việc ch p hành pháp luật của ngư i tham gia tố tụng: Nguy n đơn, ị đơn và những ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình tham gia giải quyết vụ án ch p hành đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng Điều 236 của Luật đ t đai năm 2024; các điều 166, 197, 199, 221 của Bộ luật Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Lê Thị L đối với bị đơn ông

Văn D.

- Buộc ông Văn D giao trả cho bà Lê Thị L phần đ t có diện tích 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh B.

- Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t từ à Hồ Thị C để c p lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho bà Lê Thị L.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Giữa nguy n đơn, ị đơn tranh ch p với nhau đối với phần đ t tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh B n n căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Bị đơn ông Văn D và những ngư i có quyền lợi nghĩa vụ li n quan ông Văn T, ông Văn L, ông Lê Văn Q có yêu cầu từ chối tham gia tố tụng và đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nói trên.

[2] Về nguồn gốc đ t tranh ch p: Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện nguồn gốc đ t tranh ch p có diện tích 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre thuộc một phần trong phần đ t định su t được Tập đoàn c p cho hộ ông Văn C, bà Hồ Thị C, ông Văn D, bà Lê Thị C, bà Lê Thị L vào năm 1 0

[3] Về nội dung: Nguy n đơn à Thị L cho rằng khi Nhà nước c p phần định su t cho hộ gia đình thì trong đó à có 01 phần nhưng đến nay bà vẫn chưa được nhận phần định su t của mình. Theo bà thì các thành viên trong hộ gồm có 05 ngư i gồm cha mẹ à là ông Văn C, bà Hồ Thị C và các anh chị là bà Lê Thị C, ông Văn D và bà. Phần ông D đ nhận phần định su t của mình cả phần định su t của ông C và một phần định su t của bà C nên hiện tại ông D đang quản lý sử dụng phần đ t ruộng có diện tích 2.200m2 và ông D đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần định su t nói trên. Ngoài ra khi bà C còn sống có cho ông

Văn Q một phần đ t có diện 462m2 trong phần định su t c p cho bà C và ông Q cũng đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Bà Lê Thị C cũng đ nhận phần định su t của mình có diện tích 992,9m2 và đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Do bà có th i gian làm ăn a n n phần định su t của bà do bà Hồ Thị C quản lý và theo chính sách đ t đai thì à C đ k khai đăng ký và đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t có diện tích 569,9m2 cũng chính là phần đ t à đang tranh ch p với ông Văn D. Sau khi bà C chết thì ông D trực tiếp sử dụng cho đến nay. Tuy bà C là ngư i đứng tên trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nhưng thực tế phần đ t này bà C đứng tên thay bà. Do ông D là ngư i đang trực tiếp sử dụng phần đ t này nhưng ông không đồng ý làm các thủ tục pháp lý để giao lại cho bà nên bà yêu cầu ông D phải giao lại cho bà phần đ t nói trên. Về phía ông D cũng cho rằng Nhà nước c p phần định su t cho hộ gia đình gồm có 05 ngư i là ông C, bà C, bà C, bà L và ông, phần định su t mỗi ngư i được c p là 960m2. Phần ông đ nhận phần định su t của mình, phần định su t của ông C và một phần định su t của bà C. Hiện ông đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với các phần định su t nói tr n và đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Ngoài ra khi còn sống bà C có cho ông Văn Q một phần đ t trong phần định su t c p cho hộ. Phần bà C và bà L trước đó thống nh t nhận một phần định su t là phần đ t hiện tại bà C đang đứng tên trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t Do đó, phần đ t đang tranh ch p có diện tích 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre là phần còn lại thuộc quyền sử dụng của bà C, hiện ông đang trực tiếp sử dụng phần đ t này Nhưng nay à L có yêu cầu được nhận phần định su t mà Nhà nước c p cho bà L là phần đ t nói tr n thì ông cũng đồng ý và không có ý kiến gì Nhưng à L và những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại tự thực hiện các thủ tục pháp lý li n quan đến thửa đ t nói trên, ông không tham gia. Xét th y, phần đ t đang tranh ch p được hình thành thông qua chính sách đ t đai của Nhà nước, được Tập đoàn c p cho hộ ông C, bà C, bà C, bà L và ông D. Phần định su t mỗi ngư i được c p là 960m2, đ t c p ở 3 vị trí khác nhau nhưng c p chung cho hộ gia đình và không ác định vị trí cụ thể cho từng thành viên trong hộ. Hiện phần đ t đang tranh ch p đ được Ủy ban nhân dân huyện B c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho cá nhân bà Hồ Thị C vào ngày 22/12/2015. Bị đơn ông Văn D cho rằng đ nhận phần định su t của mình kể cả phần định su t của ông C và một phần định su t của bà C và đang trực tiếp canh tác các phần định su t nói trên có diện tích 2.228,8m2 trong tổng diện tích 2.848,8m2 (trong đó có 20m2 là phần đ t ông D nhận chuyển nhượng đ t từ ông Văn Thông) và đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho cá nhân ông D. Mặt khác ông cũng thừa nhận khi còn sống mẹ ông là bà C đ l y một phần định su t để cho ông Văn Q, qua C tác xác minh thì phần ông Q được nhận có diện tích 462m2 và ông Q cũng đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Ông D cho rằng trước đây à L và bà C thống nh t l y một phần định su t là phần đ t hiện bà C đang quản lý sử dụng có diện tích qua đo đạc thực tế là 992,9m2 và bà C đ được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần định su t này. Ngoài l i trình bày nói trên thì ông D không có chứng cứ chứng minh cho việc trước đây à C và bà L th a thuận chỉ nhận một phần định su t, mặt khác bà C và bà L không thừa nhận việc này và hiện tại phần định su t này chỉ có bà C đứng tên trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Việc ông D thừa nhận đang sử dụng một phần định su t của bà C và cũng cho rằng bà C đ l y phần định su t chung để cho ông Q do đó phần định su t của bà C đ được nhận và chia cho ông Q và ông D. Khi bà C khi còn sống đ đồng ý để ông D sử dụng một phần định su t của mình và à cũng đ l y một phần định su t chung để chia cho ông Q, qua đó th y rằng bà C đ nhận đủ phần định su t của mình để chia cho các con và phần đ t mà các n đang tranh ch p do bà C đứng tên không phải là di sản do ngư i chết để lại. Đối với những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như Tập đoàn trưởng Tập đoàn 06 vào th i điểm năm 1 0 cho rằng tính đến th i điểm hiện tại bà L vẫn chưa nhận phần định su t của mình. Quá trình giải quyết bị đơn và những ngư i có quyền lợi nghĩa vụ cũng đồng ý với yêu cầu của bà L về việc bà có yêu cầu nhận phần định su t của mình nhưng phía ông D, ông Q, ông T không đồng ý thực hiện các thủ tục pháp lý cho bà L đứng tên trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với phần đ t đang tranh ch p do hiện phần đ t đang được bà C đứng tên. Quá trình giải quyết cũng như căn cứ vào phần trình bày của các n đương sự, căn cứ vào phần đ t mà các n đang sử dụng thực tế thì việc bà L cho rằng vào th i điểm bà không có mặt tại địa phương thì à C là ngư i thay à đăng ký k khai và đứng tên hộ là có căn cứ. Từ những nhận định nói trên Hội đồng xét xử ác định phần đ t đang tranh ch p là phần định su t còn lại và bà L đến th i điểm hiện tại bà L chưa nhận được phần định su t của mình nên căn cứ vào yêu cầu của bà L được nhận phần định su t này là phù hợp n n được ch p nhận. Tuy phần đ t đang tranh ch p có diện tích 569,9m2 th p hơn phần định su t mà Nhà nước c p là 960m2 nhưng à L vẫn đồng ý và không có yêu cầu nhận thêm phần định su t nào khác nên ghi nhận.

Đối với những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn T, ông Lê Văn L, bà Lê Thị C, ông Văn Q không có tranh ch p cũng như không có y u cầu gì đối với phần đ t tranh ch p giữa bà L và ông D nên không xem xét.

[4] Phần đ t tranh ch p qua đo đạc thực tế có diện tích là 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Qua xem xét thẩm định, định giá tài sản thì giá đ t tranh ch p là 500.000đồng/m2. Tổng giá trị đ t là 284.950.000 đồng.

[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá là 4.087.900 đồng. Do bà L đ nộp tạm ứng số tiền nói trên và tự nguyện chịu số tiền này nên ghi nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà L được ch p nhận nên ông

Văn D phải chịu án phí là 00 000 đồng. Bà L không phải chịu án phí.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử đối với phần đ t có diện tích 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre là thuộc quyền sử dụng của nguy n đơn n n được ch p nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều , Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 236 của Luật đ t đai năm 2024; các điều 166, 197, 199, 221 của Bộ luật Dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[2] Ch p nhận y u cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Lê Thị L đối với bị đơn ông Lê Văn D. Buộc ông Lê Văn D trả cho bà Lê Thị L phần đ t có diện tích 569,9m2 thuộc thửa 544, t bản đồ số 14, tọa lạc tại xã A, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Mục đích sử dụng đ t: Đ t chuyên trồng lúa nước.

Đ t có tứ cận và chiều dài các cạnh như sau:

Đông giáp thửa 573 cạnh dài 31,43m.

Tây giáp thửa 575 cạnh dài 33,13m.

Nam giáp thửa 576, 577 cạnh dài 9,21m – 8,45m.

Bắc giáp đư ng đi cạnh dài 2,35m – 15,51m.

(Có họa đồ hiện trạng hiện trạng thửa đất kèm theo)

Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC 620294 c p ngày 22/12/2015 cho à Hồ Thị C để c p lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho bà Lê Thị L cho phù hợp với quyết định của Bản án.

[3] Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị L tự nguyện chịu phần chi phí tố tụng bao gồm chi phí đo đạc, định giá là 4.087.900 (Bốn triệu không trăm tám m ơi bảy nghìn chín trăm) đồng nên ghi nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Văn D phải chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Hoàn trả cho à Thị L số tiền tạm ứng án phí đ nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo i n lai thu số 0004702 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

[5] Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Đối với các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo Bản án này trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại trụ sở Uỷ an nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

[6] Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ