- Tranh chấp gì? án hình sự — "17 24-01 Hoàng Văn H 174 - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 30/8/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 24 - 01- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Anh Tuấn
2. Bà Nguyễn Thị Kính
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 285/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Văn H; sinh năm 1995; tại Nghệ An; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc K và bà Trần Thị A; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/6/2023, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng (Quyết định số 216/QĐ-TA). Đến ngày 30/8/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q bắt tạm giam.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2023 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Chị Kon Sơ K1, sinh năm 1996; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: Thôn R, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: B H, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định dẫn đến không có tiền tiêu xài, Hoàng Văn H1 nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. H1 lên mạng xã hội và tạo tài khoản Facebook tên “Hoàng H1” nhằm mục đích kết bạn, làm quen với những cô gái trẻ, nhẹ dạ để giả vờ hỏi vay tiền rồi chiếm đoạt. Sau khi H1 tạo được tài khoản Facebook thì kết bạn với tài khoản Facebook có tên “GimKaKa” của chị Kon S K’Gim. Sau khi nói chuyện thì H1 có được số điện thoại của chị K1 và kết bạn, nói chuyện với chị K1 qua tin nhắn Zalo. Ngày 18/4/2023, H1 giả vờ lấy ý do bị ốm phải nằm bệnh viện G để hỏi mượn tiền của chị K1 đóng viện phí. Do tin tưởng H1 nên chị K1 đã chuyển khoản cho H1 03 lần với số tiền 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn) đồng đến số tài khoản 19036820454036 thuộc Ngân hàng T, chủ tài khoản tên Hoàng Văn H1 (thực hiện thao tác chuyển tiền từ ngày 18/4/2023 nhưng đến ngày 19/4/2023 thì H1 mới nhận được).
Nhận thấy việc lừa chị K1 quá dễ dàng, đến ngày 19/4/2023, H1 gặp chị K1 rồi cả hai đi ăn uống. H1 tiếp tục giả vờ nói với chị K1 đang cần tiền để thanh toán tiền vận tải cho hãng máy bay rồi hỏi mượn chị K1 số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng. Chị K1 đồng ý và chuyển khoản thành 02 lần vào số tài khoản của H1. Ngày 20/4/2023, H1 tiếp tục lấy lý do cần tiền để nhập hàng từ Hàn Quốc về rồi hỏi mượn chị K1 số tiền 13.700.000 (mười ba triệu bảy trăm nghìn) đồng. Chị K1 đồng ý và chuyển khoản thành 04 lần vào số tài khoản của H1. Cũng với thủ đoạn trên, ngày 21/4/2023, H1 lấy lý do cần tiền để thanh toán phí đổi ngoại tệ nên hỏi mượn chị K1 thêm 8.200.000 (tám triệu hai trăm nghìn) đồng. Chị K1 đồng ý và chuyển khoản thành 02 lần vào số tài khoản của H1.
Tổng số lần chị K1 đã chuyển khoản tiền cho H1 là 11 lần với số tiền 29.200.000 (hai mươi chín triệu hai trăm nghìn) đồng. H1 hẹn vào tối ngày 21/4/2023 sẽ hoàn trả hết số tiền đã mượn cho chị K1. Tuy nhiên, H1 chưa trả được như đã hứa thì lại tiếp tục hỏi mượn chị K1 thêm 500.000 (năm trăm nghìn) đồng. Chị K1 thấy nghi ngờ nên không cho H1 mượn nữa, đồng thời kể lại toàn bộ sự việc cho chị ruột là Kon S K’Thuyên biết. Đến khoảng 21 giờ, ngày 21/4/2023, H1 đến để gặp chị K1 tại số B H, Phường H, Quận H và nói với chị K1 là không có khả năng chi trả số tiền đã mượn. Sau đó, chị K1 và chị K2 đưa H1 đến Công an Q, Quận H trình báo sự việc. Công an Q, Quận H lập hồ sơ ban đầu và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Hoàng Văn H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Tổng số tiền H1 đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Kon S K’Gim là 29.200.000 đồng, H1 đã tiêu xài hết.
Chị Kon Sơ K1 khai nhận: Tất cả những lần chuyển tiền cho Hoàng Văn H1 đều được thực hiện tại nhà chị K1 tại địa chỉ số B H, Phường H, Quận H thông qua dịch vụ Internet Banking trên điện thoại. Chị K1 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng B và tài khoản Ngân hàng V số 108870959926, cả hai tài khoản đều do chị K1 đứng tên chủ sở hữu.
* Vật chứng tạm giữ trong vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8, màu tím, số IMEI: 3583060908981; 01 sim điện thoại số 0909598345 của Hoàng Văn H1.
* Trách nhiệm dân sự:
Ông Hoàng Ngọc K (cha ruột của H1) đã ủy quyền cho anh Cần H2 Quảng bồi thường số tiền 29.200.000 đồng cho chị Kon S K’Gim. Chị Kon Sơ K1 đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm. Hoàng Văn H1 đồng ý với việc bồi thường nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-Q8 ngày 18/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Hoàng Văn H1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn H1. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8, màu tím, số IMEI: 3583060908981; 01 sim điện thoại số 0909598345 của H1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Từ ngày 18/4/2023 đến ngày 21/4/2023, bị cáo Hoàng Văn H1 đã dùng thủ đoạn gian dối là giả vờ đưa ra nhiều lý do không có thật như cần tiền thanh toán viện phí, nhập hàng hóa, thanh toán tiền vận tải cho hãng máy bay…, làm cho bị hại chị Kon S K’Gim tin tưởng, rồi hỏi mượn tiền của chị Kon S K’Gim nhiều lần và chiếm đoạt. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 29.200.000 đồng.
Bị cáo đã thực hiện 04 lần lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại, tất cả những lần bị hại chuyển tiền cho H1 đều thực hiện tại nhà số B H, Phường H, Quận H thông qua dịch vụ Internet Banking.
Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hoàng Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong 04 lần bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại thì có 03 lần bị cáo chiếm đoạt số tiền có trị giá “từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” (6.000.000 đồng, 13.700.000 đồng và 8.200.000 đồng). Do đó, hành vi của bị cáo được xác định là “phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nhân thân: Xét thấy bị cáo từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với bị cáo.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại với tổng số tiền là 29.200.000 đồng và bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8, màu tím, số IMEI: 3583060908981; 01 sim điện thoại số 0909598345 tạm giữ của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Kon Sơ K’Gim đã nhận bồi thường số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 30/8/2023.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8, màu tím, số IMEI: 3583060908981; sim điện thoại số 0909598345.
(Theo Biên bản giao - nhận tang tài vật ngày 20/12/2023).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Hoàng Văn H1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |