vanban.org

Bản án 17/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị D, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lò Thị D được ly hôn ông Lò Văn L. Về con chung: Giao cho bà Lò Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thanh C, sinh ngày 12/8/2013 và cháu Lò Khánh N, sinh ngày 21/01/2016 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị D, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/6/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan

Bà Mùa Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Lò Thị D; địa chỉ: Bản K, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lò Văn L; địa chỉ: Bản K, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2024, trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Lò Thị D trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Lò Thị D và ông Lò Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hai bên tự tìm hiểu, không bị ép buộc, không có sự tác động từ bên ngoài và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 30/3/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng bà D và ông L chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông L thường xuyên uống rượu, chơi bời chất ma túy, bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng bà quá lớn, khiến đời sống hôn nhân không thể hòa hợp, hai người cũng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng bà chung sống cùng một nhà nhưng không ăn, không ngủ cùng nhau từ năm 2021 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.

Ngày 27/5/2024, bà D có đơn xin từ chối hòa giải với lý do: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm thủ tục hòa giải nhiều lần nhưng ông L không đến hòa giải, mẫu thuẫn của vợ chồng bà đã đến mức trầm trọng, hiện tại bà và ông L đã sống ly thân.

- Về con chung: Bà và ông L có hai con chung là cháu Lò Thanh C, sinh ngày 12/8/2013 và cháu Lò Khánh N, sinh ngày 21/01/2016. Nguyện vọng của cháu C và cháu N đều muốn được ở với mẹ và bà D cũng có nguyện vọng được chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung. Bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về Tài sản chung và N1 chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lò Văn L:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp tại Tòa án. Ông L không có ý kiến; văn bản trả lời thông báo thụ lý vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ông L vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa.

Tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân nơi sinh sống của bà Lò Thị D và ông Lò Văn L đề ngày 19/4/2024 xác nhận:

Vợ chồng bà D có mâu thuẫn nhưng không biểu hiện ra bên ngoài cũng chưa có đơn yêu cầu bản và xã hoà giải những mâu thuẫn của vợ chồng bà, do đó tại cơ sở chưa lần nào hoà giải cho vợ chồng bà. Hiện bà D và ông L không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, để làm căn cứ Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại đơn xin xác nhận của bà Lò Thị D đề ngày 23/4/2024, UBND xã P xác nhận: Bà D có nơi cư trú rõ ràng, bà D ở cùng bố mẹ đẻ tại bản Kéo, xã P và bà có thu nhập ổn định từ công việc làm ruộng cũng như làm thêm. Thu nhập một tháng được khoảng 7 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

- Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 14/3/2024, bà D nộp đơn khởi kiện về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" tại Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đối với ông L; ngày 25/3/2024, bà D nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Cùng ngày 25/3/2024, Tòa án tiến hành thụ lý và ban hành Thông báo về việc thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện theo quy định tại Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bà D và ông L đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại địa bàn thành phố Đ, tỉnh Điện Biên nên yêu cầu "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" của bà D đối với ông L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các vấn đề khác: Trong quá trình giải quyết, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông L tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền vào ngày 30/3/2016. Tại thời điểm kết hôn, bà D và ông L đều đã trên 20 tuổi, đủ điều kiện kết hôn và không thuộc những trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Có hiệu lực tai thời điểm kết hôn) nên hôn nhân giữa bà D và ông L là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Sau khi kết hôn, bà D và ông L cùng sinh sống tại bản Kéo, xã P, thành phố Đ, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây.

Bà D cho rằng: Sau khi kết hôn vợ chồng bà D và ông L chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông L thường xuyên uống rượu, chơi bời chất ma túy, bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con. Từ năm 2021 cho tới thời điểm hiện nay, tuy hai người chung sống một nhà nhưng không ăn, không ngủ cùng nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, bà D từ chối tham gia hòa giải và cương quyết xin ly hôn với ông L. Trưởng bản K, xã P, thành phố Đ xác nhận: Bà Lò Thị D và ông Lò Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản K, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Giữa bà D và ông L có mâu thuẫn nhưng chưa yêu cầu bản và xã hoà giải, do đó tại cơ sở chưa lần nào hoà giải cho vợ chồng bà. Hiện vợ chồng bà D và ông L không ai còn quan tâm đến ai nữa. Hội đồng xét xử thấy rằng, là vợ chồng lẽ ra bà D và ông L phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, ông L thường xuyên uống rượu, chơi bời ma túy, bỏ bê gia đình, phá tán tài sản đã vi phạm quy định của luật hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con. Hai người tuy chung sống một nhà nhưng không ăn, không ngủ cùng nhau. Tình trạng này đã kéo dài từ năm 2021 cho tới nay. Hai ông bà đã sống ly thân nên hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa. Ông L không có ý kiến hoặc văn bản trả lời thông báo thụ lý vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa mà không có lý do chính đáng thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, thấy rằng: Trong cuộc sống hôn nhân, ông L đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con; hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lò Thị D đối với ông Lò Văn L.

2.2. Về con chung: Bà Lò Thị D xác định có hai người con chung là cháu Lò Thanh C, sinh ngày 12/8/2013 và cháu Lò Khánh N, sinh ngày 21/01/2016, hiện cả hai cháu đang ở cùng với bà. Bà D có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung khi ly hôn với ông L. Tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu C và cháu N đã trên 07 tuổi; các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy, bà D có nơi ở ổn định; có thu nhập trung bình hơn 7.000.000 đồng/tháng từ nghề làm nông nghiệp và làm thêm, đủ trang trải cuộc sống và nuôi các con. Xét nguyện vọng được nuôi con của bà D là chính đáng bởi lẽ, hai con chung của bà đều còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên. Để thuận lợi cho sự phát triển tâm, sinh lý của cháu, Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con chung của bà D là chính đáng, phù hợp với thực tế và nguyện vọng của các con chung, đảm bảo lợi ích về mọi mặt của con và không làm ảnh hưởng, sáo trộn đến việc sinh sống, học tập ổn định của con, không trái với Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của bà D.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không đề nghị giải quyết; ông L không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết; ông L không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trọng vụ án này.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Điều 5, Điều 8, Điều 9; khoản 1 Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56 và các Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lò Thị D, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lò Thị D được ly hôn ông Lò Văn L.

2. Về con chung: Giao cho bà Lò Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Thanh C, sinh ngày 12/8/2013 và cháu Lò Khánh N, sinh ngày 21/01/2016 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có thay đổi khác.

Bà D không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về Tài sản chung và Nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Bà Lò Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000941 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Bà D đã nộp đủ tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ