- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phương, Hen"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 19 – 02 – 2024 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
2/ Ông Huỳnh Minh Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 323/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P; Sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S (Bà P vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương H; Sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S (Ông H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị P trình bày:
Bà với ông Dương H tổ chức lễ cưới vào năm 1996 nhưng đến năm 2013, ông bà mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn số 87 ngày 16 tháng 7 năm 2013. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống ở nhà cha mẹ ông H ở Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S.
Ông bà chung sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2013 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H hay dùng bạo lực gia đình. Mỗi khi nhậu say thì ông H hay đánh vợ, đánh con, đập phá đồ đạc trong nhà. Do không thể chịu đựng được nữa nên năm 2013, bà P đã dẫn cháu Dương Thị G, sinh ngày 17/01/2012 về sống bên nhà cha mẹ bà cũng ở Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S.
Trong quá trình chung sống, bà P với ông H có hai con chung là Dương Thị P Nam, sinh ngày 26/11/1997 và Dương Thị G, sinh ngày 17/02/2012.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay bà Lê Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Dương H.
- Về con chung: Cháu Dương Thị Phương N, sinh ngày 26/11/1997, đã có gia đình và có cuộc sống riêng. Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Dương Thị G, sinh ngày 17/02/2012 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tăng Văn không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 323/TB-TLVA ngày 27 tháng 11 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Dương H nhưng ông Dương H không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông Dương H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Dương H đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị P ly hôn với ông Dương H. Về con chung: Giao cháu Dương Thị G cho bà Lê Thị P trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Dương H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị P và ông Dương H đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà P có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, còn ông H mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà P và ông H.
Về nội dung: Bà Lê Thị P và ông Dương H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2013 nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông H là hợp pháp. Nguyên đơn bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông H, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét lý do xin ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử xét thấy, bà P và ông H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đầu năm 2013 thì phát sinh sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H hay dùng bạo lực gia đình. Mỗi khi nhậu say thì ông H hay đánh vợ, đánh con, đập phá đồ đạc trong nhà. Do không thể chịu đựng được nữa nên năm 2013, bà P đã dẫn cháu Dương Thị G về sống bên nhà cha mẹ bà cũng ở Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh S. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Lê Thị P yêu cầu được ly hôn với ông Dương H là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Cháu Dương Thị P Nam, đã có gia đình và có cuộc sống riêng. Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nên Tòa án không đặt ra xem xét. Cháu Dương Thị G trình bày có nguyện vọng được sống với mẹ nếu cha và mẹ cháu ly hôn. Bà P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con. Bà P trình bày bà làm công nhân và thu nhập một tháng khoảng 5.000.000 đồng và thu nhập này bà có thể nuôi dưỡng cháu G. Xét thấy, từ khi bà P và ông H không còn sống chung thì cháu G sống chung với bà P, do bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xem xét giao cháu G cho bà P nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà P không yêu cầu nên ông H không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà P trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà P trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà P yêu cầu nên bà P phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P.
- Về hôn nhân: Bà Lê Thị P được quyền ly hôn với ông Dương H.
- Về con chung: Giao cháu Dương Thị G, sinh ngày 17/02/2012 cho bà Lê Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Dương H không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Dương H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Dương H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Lê Thị P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Dương H. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002212 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy, bà Lê Thị P đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. -UBND xã T, huyện T, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc T |