vanban.org

Bản án 17/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu xác định cha cho con của anh Hoàng Đình L.

Xác định anh Hoàng Đình L là cha đẻ của cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023 (Theo Giấy chứng sinh số 08, quyển số 01 do Trung tâm y tế huyện B cấp ngày 17/01/2023). Về án phí: Anh Hoàng Đình L được miễn nộp tiền án phí hôn nhân giá đình sở thẩm. Anh Hoàng Đình L được trả lại số tiền tạm ứng án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng đình L- Nông Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu xác định cha cho con của anh Hoàng Đình L.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16-5-2024
V/v Xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Văn Trường Ông Hoàng Văn Đạo

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lý Thu Thủy - Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc xác định cha cho con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST –HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Đình L, sinh năm 1993

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt

- Bị đơn: Chị Nông Thị M, sinh năm 1992

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023. Người đại diện theo pháp luật chị Nông Thị M, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Hoàng Đình L trình bày:

Vào năm 2019, anh Hoàng Đình L và chị Nông Thị M có quen biết và có tình cảm với nhau, khi đó chị Nông Thị M với anh Hoàng Văn H đã ly thân nhưng chưa ly hôn. Chồng cũ của chị Nông Thị M là anh Hoàng Văn H quê ở huyện T, tỉnh Lạng Sơn, trong quá trình giữa anh và chị Nông Thị M yêu nhau đã có với nhau một người con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023 (chưa khai sinh). Đến ngày 15/6/2022 chị Nông Thị M và anh Hoàng Văn H đã được Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giải quyết cho ly hôn (Theo bản án số 12/2022/HNGĐ-ST ngày 15-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn). Tuy nhiên, chị Nông Thị M đã có thai với anh trong thời gian chưa ly hôn với anh Hoàng Văn H. Sau khi chị Nông Thị M ly hôn thì anh và chị Nông Thị M đã kết hôn với nhau, hiện nay, cháu Hoàng Anh T đang sinh sống cùng anh và chị Nông Thị M, nhưng chưa làm thủ tục khai sinh được. Cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023 là con chung của anh với chị Nông Thị M. Vì vậy, anh Hoàng Đình L đề nghị Tòa án xác nhận anh là bố đẻ của cháu Hoàng Anh T để anh làm thủ tục khai sinh và nhập khẩu cho cháu Hoàng Anh T.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nông Thị M trình bày:

Vào năm 2019, chị có quen biết và có quan hệ tình cảm với anh Hoàng Đình L, khi đó chị chưa ly hôn với anh Hoàng Văn H (chồng cũ của chị), trong quá trình quan hệ tình cảm với anh Hoàng Đình L thì giữa chị với anh Hoàng Đình L đã có với nhau một người con chung là cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023 (chưa khai sinh). Đến ngày 15/6/2022, chị mới được Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Văn H, tuy nhiên chị đã có thai với anh Hoàng Đình L trong thời kỳ chưa ly hôn với anh Hoàng Văn H. Do vậy, mặc dù sau khi ly hôn với anh Hoàng Văn H và chị đã kết hôn với anh Hoàng Đình L nhưng vợ chồng chị chưa làm thủ tục khai sinh được cho cháu Hoàng Anh T. Do vậy, chị đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Đình L, xác định anh Hoàng Đình L là cha của cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H trình bày:

Anh Hoàng Văn H kết hôn với chị Nông Thị M vào năm 2010, chung sống hòa thuận với nhau đến khoảng tháng chạp năm 2021 thì vợ chồng anh xảy ra mâu thuẫn. Chị Nông Thị M bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, không liên lạc gì với anh. Vợ chồng anh cũng ly thân kể từ thời điểm đó. Khoảng đầu năm 2022, chị Nông Thị M nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, đến khoảng tháng 6 năm 2022, anh và chị Nông Thị M ly hôn theo quy định của pháp luật theo Bản án của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, tuy nhiên do đã lâu nên anh không nhớ rõ số, ngày của Bản án.

Sau khi ly hôn, anh và chị Nông Thị M không còn chung sống, chị Nông Thị M về nhà mẹ đẻ tại thôn H, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn sinh sống. Khoảng 01 đến 02 tháng sau anh nghe tin chị Nông Thị M tổ chức đám cưới và lấy chồng ở huyện B, hiện nay đã có con nhỏ.

Đối với việc anh Hoàng Đình L có đơn khởi kiện về việc xác định anh Hoàng Đình L là cha đẻ của cháu Hoàng Anh T do chị Nông Thị M sinh ra vào ngày 17/01/2023 anh không có ý kiến gì, cháu Hoàng Anh T không phải là con chung giữa anh và chị Nông Thị M, do anh và chị Nông Thị M đã sống ly thân từ năm 2021, sau khi ly hôn anh và chị Nông Thị M cũng không gặp lại. Vì vậy, cháu Hoàng Anh T không phải là con của anh, anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh Hoàng Đình L.

Do hiện nay anh Hoàng Văn H đang đi làm xa, không có thời gian đến tham gia giải quyết vụ án nên anh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn giải quyết vắng mặt anh trong tất cả các phiên họp, xét xử của Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Hoàng Đình L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, Tòa án đã thông báo cho các đương sự về việc tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn anh Hoàng Đình L, bị đơn chị Nông Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H đã chấp hành, thực hiện đúng quyên và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự như: Thực hiện quyền khởi kiện; nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình; có mặt tham gia phiên tòa sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị H1 xét xử căn cứ các Điều 28; Điều 35; Điều 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 88, 89, 101 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Hoàng Đình L là cha đẻ của cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023. Về án phí: anh Hoàng Đình L được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án, anh Hoàng Đình L có đơn khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con đối với chị Nông Thị M. Đây là tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nông Thị M có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay là thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại Điều 35, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn H đã có ý kiến trình bày và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H.

Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ vào chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Ngày 15/6/2022 chị Nông Thị M mới được Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Văn H (Theo bản án số 12/2022/HNGĐ-ST ngày 15/6/2022), chị Nông Thị M sinh cháu Hoàng Anh T ngày 17/01/2023, chị Nông Thị M đã mang thai cháu Hoàng Anh T trong thời kỳ chưa ly hôn với anh Hoàng Văn H. Quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Đình L và chị Nông Thị M đều thừa nhận cháu Hoàng Anh T là con chung của anh chị, anh Hoàng Văn H không thừa nhận cháu Hoàng Anh T là con của anh. Tại kết quả xét nghiệm ADN số: PL-2403294245LC ngày 02/4/2024 của Trung tâm X, kết luận: “Người có mẫu ADN ký kiệu Hoàng Đình L và người có mẫu ADN ký hiệu Hoàng Anh T có cùng quan hệ huyết thống C – Con”. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định anh Hoàng Đình L là cha đẻ của cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023, nên yêu cầu của anh Hoàng Đình L là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Đình L có đơn xin miễn án phí và tại phiên tòa có ý kiến đề nghị được miễn án phí. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12; Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, vì vậy anh Hoàng Đình L được miễn nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Anh Hoàng Đình L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004015 ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 88, 89, 101 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu xác định cha cho con của anh Hoàng Đình L.

2. Xác định anh Hoàng Đình L là cha đẻ của cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 17/01/2023 (Theo Giấy chứng sinh số 08, quyển số 01 do Trung tâm y tế huyện B cấp ngày 17/01/2023).

3. Về án phí: Anh Hoàng Đình L được miễn nộp tiền án phí hôn nhân giá đình sở thẩm. Anh Hoàng Đình L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004015 ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. 4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Hoàng Đình L và bị đơn chị Nông Thị M có mặt, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ