vanban.org

Bản án 17/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 31/01/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T.

Hủy Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bà Hà Thị Linh T theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà T khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 168 Luật Đất đai; Điều 169 Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HC-ST
Ngày: 31-01-2024
V/v khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tương, bà Nguyễn Thị Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 209/2023/TLST-HC, ngày 29/11/2023, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HC ngày 15 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Hà Thị Linh T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khu phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hiệp H, sinh năm 1965. Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn T1, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Phan Thiết

Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Thành L, chức vụ: Phó giám đốc phụ trách là người đại diện theo ủy quyền.

2. Bà Bùi Thị Mỹ H1, sinh năm 1974 và ông Cao Thanh B, sinh năm 1972. Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt bà Nguyễn Thị Hiệp H, các đương sự còn lại đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 16/7/2019, bà Bùi Thị Mỹ H1 được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 876696 ngày 22/8/2014, thửa đất số 167, tờ bản đồ số 12, diện tích 100m2 đất ở tại nông thôn, nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng.

Ngày 20/10/2023, bà Bùi Thị Mỹ H1 cùng chồng là ông Cao Thanh B chuyển nhượng thửa đất 167 nêu trên cho bà Hà Thị Linh T. Hợp đồng chuyển nhượng được Văn phòng C chứng nhận cùng ngày. Ngày 23/10/2023, bà T nộp hồ sơ thực hiện thủ tục đăng ký biến động sang tên tại UBND thành phố P. Theo Thông báo về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Hà Thị Linh T số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ đã hoàn trả hồ sơ của tôi với lý do: Diện tích đất ở nhận chuyển nhượng có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngàu 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hiện nay chưa có ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết của cấp có thẩm quyền.

Bà T nhận thấy việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà là đúng pháp luật, đủ điều kiện nhận chuyển nhượng và không vi phạm quy định về cấm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất nhận chuyển nhượng cũng không thuộc trường hợp cấm chuyển quyền theo quy định của Luật Đất đai tại các Điều 167, 168, 169, 188 và 191. Việc Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà T là trái quy định, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của bà.

Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ; Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với thủ tục đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Hà Thị Linh T theo quy định của pháp luật.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 3385/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 29/12/2023:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T, Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp ý kiến, toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Tòa án, Văn phòng Đăng ký đất đai không bổ sung tài liệu, chứng cứ nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 12564/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 20/12/2023:

Qua kiểm tra rà soát hồ sơ thì thửa đất số 167, tờ bản đồ số 12 theo Giấy chứng nhận số BS 876696 có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị Kim N chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 3976/QĐ-UBND ngày 07/7/2014 của UBND thành phố P đối với thửa đất số 107A, tờ bản đồ số 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 716195 do UBND thành phố P cấp ngày 11/3/2004 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch là đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: "Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh".

Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).

Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đ thì hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 30/10/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Hà Thị Linh T. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Hà Thị Linh T được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

2. Bà Bùi Thị M hằng và ông Cao Thanh B trình bày: Ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm - nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T, hủy Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Bà Hà Thị Linh T vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền; bà Bùi Thị Mỹ H1, ông Cao Thanh B, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

Về quyền khởi kiện: Bà Hà Thị Linh T nhận chuyển nhượng thửa đất số 167, tờ bản đồ số 12, diện tích 100,0 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 876696 do UBND thành phố P cấp ngày 22/8/2014, theo Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 09077, quyền số 10/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/10/2023 tại Văn phòng C.

Ngày 23/10/2023, bà Hà Thị Linh T nộp hồ sơ cập nhật chỉnh lý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. Ngày 30/10/2023, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ ban hành Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Hà Thị Linh T. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên bà Hà Thị Linh T đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T nên bà T có quyền khởi kiện đối với Văn bản số 1599/TB - CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1599/TB - CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023. Đến ngày 20/11/2023, bà Hà Thị Linh T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn thời hiệu giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hà Thị Linh T và bà Bùi Thị Mỹ H1, ông Cao Thanh B phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất nhận chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy định của pháp luật nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của bà Hà Thị Linh T. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 1599/TB - CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bà Hà Thị Linh T được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 1, điểm a khoản 4 Điều 95, khoản 1 Điều 168, Điều 169, 188 Luật Đất đai;

- Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T.

Hủy Thông báo số 1599/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 30/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bà Hà Thị Linh T theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hành chính sơ thẩm:

- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.

- Bà Hà Thị Linh T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho bà Hà Thị Linh T 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000045 ngày 29/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/01/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Cỡ chữ