vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Xuân T và Phạm Văn H.

Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dƣơng Văn M. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Xuân T và Phạm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:17/2023/HS-ST
Ngày: 12-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng

Ông Hồ Tấn Tài

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 361/2022/TLST- HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 372/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Xuân T, sinh năm 2001 tại Quảng Ngãi; nơi cƣ trú: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân X, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2021đến nay.

2. Phạm Văn H, sinh năm 2002 tại Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề ngH1: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1982 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1983; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2021 đến nay.

3. Dƣơng Văn M, sinh năm 2000 tại Hậu Giang; nơi cƣ trú: Ấp M, thị trấn C, huyện Phụng H, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng M P, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1984; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2021 đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Trần Đình S, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Tạm trú: D11 khu dân cƣ T, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Bé K, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Ấp Ô, xã L, huyện C, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

Võ Xuân S, sinh năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Xóm Y, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

Trần Văn R, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Đặng Đình Đ, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Xóm C, xã Nhuyện C, Thành phố Hà Nội, có đơn vắng mặt.

Nguyễn Trung H, sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Cụm 1, xã N, huyện P, Thành phố Hà Nội. Tạm trú: 192/15 Nguyễn Tri Phƣơng, khu phố A, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn vắng mặt.

Nguyễn Xuân Trịnh; nơi cƣ trú: Thôn N, xã Đ, huyện Mộ Đ, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

Phạm Văn H1, sinh năm 1982; nơi cƣ trú: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

Ngƣời làm chứng

Trịnh Thị L, sinh năm 1992, vắng mặt.

Nguyễn Văn P, sinh năm 1985, vắng mặt.

Lê Văn N, sinh năm 1989, vắng mặt.

Tống Xuân T, sinh năm 1976, vắng mặt.

Phạm Thị D, sinh năm 1987, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 12/12/2021 Trần Đình S, sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An cùng ông Lê Văn N, sinh năm 1989; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An và tên S (chƣa rõ thông tin nhân thân, lai lịch) đến quán karaoke 179, địa chỉ D15/23, khu dân cƣ Thuận Giao, khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, Bình Dƣơng thuê phòng số 209 để hát và ăn uống. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, Đình S đến quầy thu ngân để thanh toán tiền thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau với nhân viên Võ Xuân S, sinh năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Xóm Y, xã Hòa S, huyện Đ tỉnh Nghệ An. Lúc này, Xuân S đi vào trong bếp của quán karaoke lấy 01 đoạn cây tre cầm trên tay quay ra đánh 02 cái vào hai chân của Trần Đình S. Ngoài ra còn có các nhân viên của quán gồm: Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H, Dƣơng Minh C, Nguyễn Bé K dùng tay đánh vào vai, lƣng Trần Đình S nhƣng không bị thƣơng tích. Trần Đình S ấm ức bị đánh nên nói lại “tụi bây chờ tao kêu ngƣời đến” và Trần Đình S điều khiển xe mô tô chạy đi. Cùng lúc này, một nhóm đối tƣợng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến quán karaoke 179 ngồi chờ ở sảnh để chờ đặt phòng hát. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, Trần Đình S điều khiển xe mô tô quay trở lại quán, trên baga xe để 01 con dao bằng kim loại màu đen dài khoảng 50cm, Đình S nói lời thách thức “Tụi bây ra đánh nhau”. Thấy vậy, T cầm 01 cây tre dài khoảng 1,2 mét, Cảnh cầm 01 cây tre dài khoảng 01 mét, H cầm cây gỗ dài khoảng 1,2 mét và một số đối tƣợng đang ngồi tại quán 179 chờ lấy phòng hát khi nghe Đình S thách thức nên cầm theo ly thủy tinh, cây gỗ trên tay chạy rƣợt đuổi Đình S để đánh, Đình S thấy đông ngƣời đuổi theo nên cầm dao bỏ chạy. Lúc này M nhìn thấy cũng đuổi theo hỗ trợ đánh nhau, M nhặt viên đá ném về phía Đình S nhƣng không trúng. Tất cả chạy đuổi theo Đình S khoảng đƣợc 50 mét thì Đình S bị đánh nên vấp ngã xuống đƣờng. T, H, Cảnh và các đối tƣợng đã dùng cây tre, cây gỗ, tay chân đánh trúng vào ngƣời, dùng cây tre đánh trúng tay của Đình S gây thƣơng tích, sau đó tất cả rời khỏi hiện trƣờng.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 68/2022/GĐPY ngày 24/01/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận bị hại Trần Đình S thƣơng tích nhƣ sau: Chấn thƣơng gãy kín 1/3 giữa xƣơng trụ trái, gãy mỏm trâm trụ trái đã phẫu thuật kết hợp xƣơng, vết mổ 1/3 trên mặt trong cẳng tay trái 11 x 0,1cm, sẹo lành; Chấn thƣơng gãy kín 1/3 giữa xƣơng trụ phải, đã cal. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 21%. (Hai mƣơi mốt phần trăm). Cơ chế hình thành thƣơng tích: Chấn thƣơng gãy kín 1/3 giữa xƣơng trụ trái, gãy mỏm trâm trụ trái, chấn thƣơng gãy kín 1/3 giữa xƣơng trụ phải: Gãy xƣơng kín không có vết thƣơng ngoài da, khả năng do vật tày gây ra.

Đối với Dƣơng Minh C, sinh ngày 07/9/2004 khi thực hiện hành vi Cố ý gây thƣơng tích chƣa đủ 18 tuổi (17 tuổi 3 tháng). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác M tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cây Dƣơng, huyện Phụng H, tỉnh Hậu Giang thu thập giấy khai sinh của Cảnh thuộc trƣờng hợp đăng ký quá hạn, hồ sơ đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cây Dƣơng, huyện Phụng H, tỉnh Hậu Giang không có Giấy chứng sinh và xác M tại Trung tâm y tế thị trấn Cây Dƣơng, huyện Phụng H, tỉnh Hậu Giang không có giấy chứng sinh. Qua xác M đƣợc biết Cảnh và gia đình không có mặt tại nơi cƣ trú, do đó chƣa đủ căn cứ xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với Dƣơng Minh C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác M làm rõ xử lý sau.

Đối với Võ Xuân S, Nguyễn Bé K đã có hành vi dùng gậy, tay chân đánh Trần Đình S tại quán karaoke 179 nhƣng không thƣơng tích. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau đối với Xuân S, K theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ.

Đối với Trần Đình S sử dụng hung khí là con dao bằng kim loại để thách thức đánh nhau nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đình S về hành vi gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ.

Tang vật thu giữ: 01 (một) cây tre dài khoảng 01 mét đã qua sử dụng; 02 (hai) đoạn cây tre bị gãy và nhiều mảnh thủy tinh vỡ; 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen dài 50 cm; 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hành vi Cố ý gây thƣơng tích; 01 (một) đầu thu của hệ thống camera nhãn hiệu KB Vison đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A3, màu đen, vỡ mặt kính phía sau; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max 64Gb màu xanh rêu.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) cây tre dài khoảng 01 mét đã qua sử dụng, 02 (hai) đoạn cây tre bị gãy và nhiều mảnh thủy tinh vỡ do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen dài khoảng 50 cm của Trần Đình S mang theo để đánh nhau, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A3, màu đen, vỡ mặt kính phía sau của Trần Văn R, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Ấp Mi, xã M, huyện C, tỉnh An Giang và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max 64Gb màu xanh rêu của Đặng Đình Đ, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Xóm C, xã N, huyện C, Thành phố Hà Nội thu giữ để phục vụ điều tra. Quá trình điều tra, xác M đƣợc biết Đ liên lạc cho Rolis để nhờ đến quán 179 giải quyết khi đánh nhau, tuy nhiên Rolis không đến và cũng không nhờ đối tƣợng khác đến quán đánh nhau, hiện Rolis, Đ không có mặt tại nơi cƣ trú, do đó cần giao lại các điện thoại trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 (một) đầu thu của hệ thống camera nhãn hiệu KB Vison đã qua sử dụng, thu giữ quán kareoke 179 ghi nhận vụ cố ý gây thƣơng tích, đây là tài sản của ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Cụm 1, xã N, huyện P, Thành phố Hà Nội nên trả lại cho ông H.

Đối với 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận vụ Gây rối trật tự công cộng đƣợc lƣu vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Đình S yêu cầu các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H, Dƣơng Văn M phải bồi thƣờng tổng số tiền 190.000.000 đồng gồm các chi phí điều trị thƣơng tích, chi phí ngày công lao động bị mất trong thời gian điều trị thƣơng tích, chi phí tiền tổn thất tinh thần. Các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Xuân T đã bồi thƣờng đƣợc 80.000.000 đồng, còn lại 110.000.000 đồng chƣa bồi thƣờng.

Cáo trạng số 356/CT-VKS-TA ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Xuân T, bị cáo Phạm Văn H.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án;

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dƣơng Văn M.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn M từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng 140.000.000 đồng. Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Xuân T và Phạm Văn H tác động gia đình bồi thƣờng cho bị hại Trần Đình S số tiền 80.000.000đồng. Bị hại yêu cầu bồi thƣờng thêm số tiền 60.000.000 đồng. Đồng thời bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Đồng thời đồng ý bồi thƣờng cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 12/12/2021, tại quán karaoke 179, địa chỉ D15/23, khu dân cƣ Thuận Giao, khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, Bình Dƣơng, các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M có hành vi sử dụng cây tre, cây gỗ, tay chân đánh trúng vào ngƣời gây thƣơng tích cho bị hại Trần Đình S, với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên là 21%. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích”, thuộc tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, bị cáo không tìm cách ứng xử khác phù hợp đạo Đ, pháp luật mà sử dụng cây tre, cây gỗ là hung khí nguy hiểm đánh bị hại gây thƣơng tích. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phƣơng, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt phù hợp hành vi của các bị cáo đã thực hiện.

Về đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng ở mức giản đơn; trong vụ án này bị cáo M tham gia với vai trò là đồng phạm giúp sức. Do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét vai trò của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt tƣơng xứng với vai trò của các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo H, T tác động ngƣời nhà bồi thƣờng cho bị hại; Qua trình điều tra bị hại có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo H và T. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng thêm số tiền 60.000.000 đồng và có yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo M, T và H. Nhƣ vậy, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng và việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Trần Đình S yêu cầu các bị cáo phải liên đới bồi thƣờng số tiền chi phí điều trị, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần số tiền 140.000.000 đồng và xác định gia đình bị cáo Nguyễn Xuân T và bị cáo Phạm Văn H đã bồi thƣờng số tiền 80.000.000 đồng cho bị hại. Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M đồng ý tiếp tục bồi thƣờng cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng và thống nhất mỗi bị cáo bồi thƣờng cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thƣờng giữa các bị cáo với bị hại Trần Đình S nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với Dƣơng M Cảnh khi thực hiện hành vi Cố ý gây thƣơng tích chƣa đủ 18 tuổi (17 tuổi 3 tháng). Quá trình điều tra chƣa đủ căn cứ xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với Dƣơng M Cảnh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác M khi nào làm rõ sẽ tiếp tục xử lý sau.

Đối với Võ Xuân S, Nguyễn Bé K đã có hành vi dùng gậy, tay chân đánh Trần Đình S tại quán karaoke 179 nhƣng không thƣơng tích. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau đối với Xuân S, K theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với Trần Đình S sử dụng hung khí là con dao bằng kim loại để thách thức đánh nhau nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đình S về hành vi gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây tre dài khoảng 01 mét, 02 (hai) đoạn cây tre bị gãy và nhiều mảnh thủy tinh vỡ, 01 (một) con dao bằng kim loại, màu đen dài khoảng 50.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max 64Gb màu xanh rêu của Đặng Đình Đ. Quá trình điều tra, Đ liên lạc cho Rolis để nhờ đến quán 179 giải quyết khi đánh nhau, tuy nhiên Rolis không đến và cũng không nhờ đối tƣợng khác đến quán đánh nhau. Xét thấy không có căn cứ xác định điện thoại trên dùng vào việc phạm tội và đây là tài sản cá nhân nên cần tuyên trả lại cho Đặng Đình Đ.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A3, màu đen, vỡ mặt kính phía sau của Trần Văn Rolis. Do Trần Văn Rolis không có mặt tại nơi cƣ trú, do đó cần giao lại điện thoại trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 (một) đầu thu của hệ thống camera nhãn hiệu KB Vison, thu giữ của quán kareoke 179 ghi nhận vụ cố ý gây thƣơng tích, đây là tài sản của ông Nguyễn Trung H nên trả lại cho ông H.

Đối với 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận vụ Gây rối trật tự công cộng đƣợc lƣu vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Xuân T và Phạm Văn H.

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dƣơng Văn M.

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (12/01/2023).

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (12/01/2023).

Xử phạt bị cáo Dƣơng Văn M 02 (hai) năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (12/01/2023).

Trả tự do ngay tại phiên toà cho các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Dƣơng Văn M cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thƣờng giữa các bị cáo Nguyễn Xuân T, Phạm Văn H và Dƣơng Văn M với bị hại Trần Đình S. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T, bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Dƣơng Văn M bồi thƣờng cho bị hại Trần Đình S tổng số tiền 60.000.000 đồng, cụ thể: Mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại Trần Đình S số tiền 20.000.000đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây tre dài khoảng 01 mét đã qua sử dụng, 02 (hai) đoạn cây tre bị gãy và nhiều mảnh thủy tinh vỡ; 01 (một) cây dao dài 50 cm.

Trả lại cho Đặng Đình Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max 64GB, màu xanh rêu, số Seerri: FCI2L149N70G, số máy: MWH22LL/A bên trong có chứa sim số: 0979.139.995.

Trả cho Nguyễn Trung Huyên 01 (một) đầu thu của hệ thống camera nhãn hiệu KB Vison, đã qua sử dụng.

Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A3, màu đen, Số IMEI 1: 357337070585232/01, Số IMEI 2: 357338070585230/01, vỡ mặt kính phía sau, ốp lƣng đen của Trần Văn Rolis để làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022 giữa Công an thành phố Thuận An và Chi cục thi hành án thành phố Thuận An).

4. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Xuân T, bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Dƣơng Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Xuân T, bị cáo Phạm Văn H và bị cáo Dƣơng Văn M mỗi bị cáo phải chịu 1.000.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ