vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Gia H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Gia H "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 16-02-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Công Hạnh và bà Đào Thị Ngâm.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Yên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Gia H, tên gọi khác: M, sinh ngày 24/11/1994 tại Phú Yên; HKTT: 85 L, Phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: tổ 5, khu phố P1, Phường C, thành phố T, Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ngọc Đ, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1957; có vợ là Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm: 1994 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH Thương mại và Vận tải S; Địa chỉ: số 6H đường N, Phường B, thành phố T, Phú Yên. Địa điểm kinh doanh: Khách sạn S Charm S; Địa chỉ: 181 – 183 Đ, Phường N, thành phố T, Phú Yên.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1987 – Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Ông Hồ Ngọc T, sinh năm: 1979; Địa chỉ: 95 L, Phường H, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1975; Địa chỉ: thôn C, xã H, Huyện P, Phú Yên. Vắng mặt.

2/ Ông Trương Hữu T, sinh năm: 1989; Địa chỉ: 04 L, phường M, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Ông Võ Tấn C, sinh năm: 1955; Địa chỉ: 143 N, phường N, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

2/ Bà Nguyễn Thị L sinh năm: 1957; Địa chỉ: khu phố P1, phường C, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

3/ Bà Lê Thị N, sinh năm: 1979; Địa chỉ: thôn P, xã A, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

4/ Ông Huỳnh Tấn B, sinh năm: 1999; Địa chỉ: đường T, phường S, thành phố T, Phú Yên. Có mặt.

5/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm: 1997; Địa chỉ: khu phố 2, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Gia H là nhân viên lễ tân Khách sạn S Charm S; địa chỉ: 181 – 183 Đ, Phường N, thành phố T. Trong ca làm lễ tân, lợi dụng khi khách sạn không có người quản lý, chỉ có H ở khách sạn nên H nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho bạn là Trương Hữu T với nội dung là khách sạn nơi H làm việc cần thanh lý tủ mát mini, nhờ T tìm người mua và hứa sẽ trả tiền bồi dưỡng cho T. Sau đó, T dẫn ông Nguyễn Thanh T đến khách sạn gặp H để mua tủ mát. H lén lút dùng thẻ khoá từ tổng ở quầy lễ tân mở các phòng khách sạn lấy tủ mát bán cho ông T. Bằng thủ đoạn như trên, H đã 02 lần lén lút trộm tủ mát của khách sạn bán cho ông T các ngày 23/9/2022 và ngày 25/9/2022, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 16 giờ ngày 23/9/2022, H sử dụng thẻ từ tổng ở quầy lễ tân mở phòng 201, 208, 209 lấy 03 tủ mát mini màu đen hiệu Homesun trị giá 4.500.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T) bán cho ông T với giá 2.000.000 đồng/03 tủ. Sau đó, T và T chở số tài sản trên về cửa hàng điện lạnh của ông T ở 61 T, phường B, thành phố T. Tại đây, ông T đưa cho T 2.000.000 đồng, T đến khách sạn đưa lại tiền cho H và được H bồi dưỡng 400.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 25/9/2022, H nhắn tin cho T với nội dung khách sạn cần thanh lý thêm 05 tủ mát. T nhắn tin cho H là ông T đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng/05 tủ; H đồng ý và nói sau khi lấy tiền sẽ cho T 300.000 đồng. Sau đó, H mở phòng 203, 205, 206, 305 và 501 lấy trộm 05 tủ mát mini màu đen hiệu Homesun, tổng trị giá 7.500.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tuy Hòa) rồi khiêng xuống tầng hầm khách sạn. T đi xe taxi đến chở 05 tủ mát đến cửa hàng của ông T, ông T đưa T 2.000.000 đồng và bồi dưỡng cho T 100.000 đồng; T cHển khoản 1.700.000 đồng cho H.

Đến ngày 28/9/2022, bị hại phát hiện khách sạn bị mất trộm 08 tủ mát nên báo cáo sự việc cho Cơ quan Công an. Sau khi sự việc bị phát hiện, H đã tác động mẹ là bà Nguyễn Thị L chuộc lại 08 tủ mát từ ông T và trả lại cho khách sạn.

Vật chứng, tài sản thu giữ: Đang tạm giữ, chờ xử lý 800.000 đồng do Trương Hữu T giao nộp.

Tại Bản cáo trạng số 06/CT-VKSTH ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về dân sự: Không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng do ông Trương Hữu T giao nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 23/9/2022 và ngày 25/9/2022, tại khu vực Phường N, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Lê Gia H đã có hành vi lén lút lấy trộm 08 tủ mát mini, hiệu Homesun của Khách sạn S Charm S, với tổng trị giá là 12.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ được hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện; lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu khi tài sản không có người quản lý, trong thời gian ngắn đã thực hiện 02 lần hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm T; sau khi bị phát hiện bị cáo đã chủ động tác động gia đình khắc phục hậu quả gây ra, chuộc lại tài sản và trả lại cho bị hại; bị cáo được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm học tập, cải tạo tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xét.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Số tiền 800.000 đồng do ông Trương Hữu T giao nộp, là số tiền ông T được hưởng lợi từ hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Lê Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Gia H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng do Trương Hữu T giao nộp tại Biên lai thu tiền số 0002492 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Gia H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ