vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Mỹ H và Lương Trung Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”.

1 Bị cáo Lý Mỹ H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 06 (sáu) năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 27/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Mỹ H - Lương Trung Ng phạm tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lý Mỹ H và Lương Trung Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 14 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh Bình

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Đạt Phương

2. Ông Đào Khel

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng, ông Bùi Văn Bảo - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và 14 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Lý Mỹ H, sinh ngày xx tháng xx năm 19xx; tại Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số x, đường Q, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Lý Văn Rg và bà Nguyễn Thị Minh N; chồng tên Ngô Đức K, sinh năm 19xx, đã ly hôn; con: có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Vào ngày 09/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 02 năm 2022 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)

2. Lương Trung Ng, sinh năm 19xx; tại Sóc Trăng; Nơi thường trú: Số xx đường K, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện tại: số x6, đường Ce, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Lương Tấn Đ và bà Trần Thị Th; vợ tên Vương Thu N, sinh năm 20xx, đã ly thân; con có 01 người sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Về nhân thân: Vào ngày 16 tháng 9 năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18 tháng 3 năm 2015 đã chấp hành xong hình phạt tù; ngày 26 tháng 02 năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 02 tháng 3 năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt của hai bản án là 03 năm 03 tháng tù, đến ngày 19 tháng 9 năm 2018 đã chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 19 tháng 10 năm 2010 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng, đến ngày 30 tháng 4 năm 2013 thì chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07 tháng 02 năm 2022 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

1. Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Số x, đường x, khu đô thị x, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

2. Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 19xx; Nơi thường trú: số x, Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Chỗ ở hiện nay: số x, đường D, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng:

1. Anh Thái Thanh B, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Số x, đường C, khóm 4, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Việt Th, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Số x, đường C, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

3. Bà Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 19xx; Nơi cư trú: Số x9, đường P, khóm x, phường x, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 47 phút, ngày 08 tháng 01 năm 2022 Lương Trung Ng điều khiển xe mô tô biển số 5xKx-89xx chở Lý Mỹ H ngồi phía sau lưu thông trên đường Lê Duẫn theo hướng từ đường 30 tháng 4 về đường Lê Hồng Phong, thành phố Sóc Trăng. Khi Ng và H điều khiển xe đi đến đoạn trước quán cà phê Đại Lâm Mộc số 189 đường Lê Duẫn, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng thì H và Ng nhìn vào trong quán cà phê thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, biển số 83Z1-069.93 của anh Huỳnh Văn Q đang dựng phía trước quán cà phê Đại Lâm Mộc, còn gắn chìa khóa trên xe nên Ng và H nảy sinh ý định lấy trộm. Sau đó Ng và H điều khiển xe chạy ngược chiều lại rồi dựng xe sát phía bên trái của xe của anh Q rồi định lấy trộm chiếc xe này, nhưng cùng lúc có khách chạy xe mô tô vào quán cà phê và dựng xe phía bên phải xe của anh Q, còn ở phía sau bên phải xe của anh Q thì có một chiếc xe mô tô khác đang dựng trước đó nên H và Ng không lấy trộm được xe của anh Q, do đó H và Ng đi vào bên trong quán cà phê Đại Lâm Mộc ngồi uống nước và quan sát để chờ cơ hội lấy trộm xe mô tô của anh Q. Trước khi đi vào quán cà phê, Ng tháo nón bảo hiểm ra và máng lên xe mô tô của Ng, còn H thì cũng dự định để nón lên xe nhưng sau đó H lại cầm nón bảo hiểm trên tay đi vào trong quán. Khi vào bên trong quán thì Ng ngồi gần và quay mặt về hướng chổ xe của anh Q đang dựng để quan sát, còn H thì ngồi quay mặt vào bên trong quán. Trong lúc ngồi uống nước thì H và Ng chỉ tiếp xúc với nhân viên của quán cà phê, không có nhắn tin hay điện thoại cho ai mà chỉ kêu một chai Sting cùng hai cái tẩy để uống, mục đích là quan sát xung quanh để tìm cơ hội lấy trộm xe mô tô của anh Q. Đến khoảng 09 giờ 57 phút, H kêu nhân viên của quán cà phê tính tiền nước; sau khi tính tiền nước xong, H và Ng tiếp tục ngồi uống nước thêm một lút nữa thì Ng và H quan sát thấy khách trong quán đã vắng, khu vực xe anh Q dựng xe không còn xe nào khác và không có người trông coi, nên Ng và H đi ra khỏi quán, Ng đi trước, còn H đội nói bảo hiểm đi theo sau. Đến khoảng 10 giờ 17 phút thì Ng đi đến chổ xe mô tô của Ng đang dựng leo lên xe ngồi, còn H thì đi đến xe mô tô của anh Q đang dựng leo lên xe ngồi rồi sau đó cả hai khởi động nổ máy 02 xe mô tô này chạy về hướng đường Lê Hồng Phong để tẩu thoát. Đối với anh Huỳnh Văn Q sau khi phát hiện bị mất trộm xe nên đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Future Fi, màu xanh nâu đen, biển số 83Z1-069.xx, số khung RLHJC7651MY044751, số máy JC90E0157011, giá trị sử dụng còn lại là 95%, có giá 25.650.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ một nón bảo hiểm, loại nón sơn, màu xám, trên nón có dòng chữ nón sơn, đã qua sử dụng; một nón bằng vải, màu xanh, trên nón có dùng chữ Converse, màu đỏ, đã qua sử dụng; một áo thun ngắn tay, màu xanh, bên ngực trái có dòng chữ Asenal, màu trắng, đã qua sử dụng; một quần ngắn ngang đầu gối, loại quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng; một đôi dép quai kẹp, màu đen, trên dép có số 619+6, đã qua sử dụng; một nón bảo hiểm, loại nón sơn, trên nón có dòng chữ nón sơn, đã qua sử dụng; một áo thun ngắn tay, màu xám, đã qua sử dụng; một áo sơ mi dài tay, màu sọc trắng đen, đã qua sử dụng; một áo sơ mi dài tay, loại vải Jean, màu xám, đã qua sử dụng; một quần Jean dài, màu xanh, có chữ BLLY, đã qua sử dụng; một đôi dép quai ngang, màu xám, đã qua sử dụng; một xe mô tô kiểu dáng Wave RS, màu tím trắng vàng, biển số 54K3-89xx, số khung, số máy bị làm hư hỏng, đã qua sử dụng và số tiền 1.282.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Văn Q yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 25.650.000 đồng.

Ngoài ra, vào khoảng 08 giờ, ngày 07 tháng 02 năm 2022 Ng điều khiển xe mô tô biển số 83Px-198.xx chở H ngồi phía sau lưu thông trên đường Mạc Đỉnh Chi theo hướng từ đường Nguyễn Văn Trỗi về đường Lê Duẫn, khi đến đoạn trước Trường Trung học phổ thông Hoàng Hiệu thì H phát hiện bà Huỳnh Thị M đang điều khiển xe mô tô biển số 83F3-8958 chạy cùng chiều phía trước và H phát hiện trên cổ bà M có đeo sợi dây chuyền vàng 18K, loại khoen lật và 01 mặt dây chuyền vàng 18K tổng trọng lượng 42,2611 gam nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt, lúc này bà M điều khiển xe chạy với vận tốc khoảng 20 km/h và điều khiển xe cách lề phải khoảng 02 mét. Ng và H điều khiển xe chạy phía sau bà M cũng cách xe bà M khoảng 05 mét. Khi đến đoạn trước Doanh nghiệp tư nhân Cẩm Phong số 246-248, đường Mạc Đỉnh Chi, khóm 4, phường 9, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng thì Ng cho xe tăng ga chạy vượt lên phía bên phải xe của bà M, khi hai xe vừa chạy song song với nhau thì H ngồi phía sau trồm người ra phía trước, tay phải của H ôm kéo người Ng, còn tay trái giật sợi dây chuyền của bà M, do trọng lượng sợi dây chuyền lớn nên khi giật H làm sợi dây chuyền đứt ra và dính trên cổ áo của bà M, sau đó xe của Ng và bà M va vẹt vào nhau làm cho cả xe và người té ngã xuống đường, trước khi té ngã H buông bỏ sợi dây chuyền vừa giật của bà M ra, sau đó Ng và H đứng dậy dựng xe mô tô lên để chạy tẩu thoát thì bị người dân đi đường bắt giữ và điện thoại báo cho Cơ quan Công an. Đối với bà M khi té ngã thì bị thương tích nặng ở vùng mặt nên được người dân ở gần đó đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng cấp cứu và điều trị đến ngày 14 tháng 02 năm 2022 thì xuất viện.

Tại bản kết luận giám định số 1078/KL-C09B, ngày 25 tháng 02 năm 2022 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, có thành phần kim loại Vàng (Au), Bạc (Ag), Đồng (Cu); hàm lượng Vàng 67,80%, hàm lượng Đồng 17,92%, hàm lượng Bạc 14,28%; có khối lượng 40,2466 gam và 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có thành phần kim loại Vàng (Au), Bạc (Ag), Đồng (Cu); hàm lượng Vàng 71,66%, hàm lượng Đồng 21,72%, hàm lượng Bạc 6,62, có khối lượng 2,0145 gam; tổng khối lượng 42,2611 gam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG, ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền kiểu khoen lật bằng kim loại màu vàng dài 60cm, có mặt hình trái tim bằng kim loại màu vàng có ghi chữ 18K, tổng khối lượng 42,2611 gam, có giá 40.865.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 172/TgT-PY, ngày 18 tháng 4 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận: Ấn đau vùng gò má phải; gãy cung gò má phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 10%; vỡ xoang hàm phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 07%; vỡ thành hốc mắt phải đã liền cal, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 07%. Sẹo vùng đuôi cung mày trái, kích thước 05cm x 0,3cm, bề mặt bờ vết sẹo nham nhở, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06%. Vết rối loạn sắc tố da vùng mặt sau khuỷu tay trái, kích thước 01cm x 01cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 0,5%; tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 27%.

Về vật chứng, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 83P1-198.69, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần kaki ống dài màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép vai kẹp màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây chuyền kiểu khoen lật, dài 60cm, có mặt hình trái tim làm bằng kim loại màu vàng có ghi chữ 18K; 01 (một) xe mô tô biển số 83F3-8958, đã qua sử dụng; 01 (một) quần sọt bằng vải màu nâu, lưng quần có chữ MVIO, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi bằng vải ngắn tay màu xanh chấm bi màu trắng, trên cổ áo có chữ VERSACE, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu nâu, phía sau có chữ nón sơn, đã qua sử dụng. Sau khi xác minh là rõ đã trả 01 (một) sợi dây chuyền kiểu khoen lật, dài 60cm, có mặt hình trái tim làm bằng kim loại màu vàng có ghi chữ 18K; 01 (một) xe mô tô biển số 83F3-8958, đã qua sử dụng cho bị hại Huỳnh Thị M.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Thị M đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm, nên không đặt ra xem xét.

Cáo trạng số 142/CT-VKS-TPST ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lương Trung Ng, Lý Mỹ H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo các Lương Trung Ng, Lý Mỹ H phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Trung Ng, xử phạt bị cáo Ng từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội: Buộc bị cáo Lương Trung Ng phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 06 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Mỹ H, xử phạt bị cáo H từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội. Buộc bị cáo Lý Mỹ H phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 05 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của bản án số 27/2022/HS-ST, ngày 09 tháng 09 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo H bồi thường cho bị hại Huỳnh Văn Q với tổng số tiền là 25.650.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý như sau:

Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) mũ bảo hiểm loại nón sơn, màu xanh, trên nón có dòng chữ Nón Sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, sọc màu trắng - đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại vải Jean, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh có chữ BLLY, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép vai ngang, màu xám, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Ng: một nón bảo hiểm, loại nón sơn, màu xám, trên nón có dòng chữ Nón Sơn, đã qua sử dụng; một nón bằng vải, màu xanh, trên nón có dùng chữ Converse, màu đỏ, đã qua sử dụng; một áo thun ngắn tay, màu xanh, bên ngực trái có dòng chữ Asenal, màu trắng, đã qua sử dụng; một quần ngắn ngang đầu gối, loại quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng; một đôi dép quai kẹp, màu đen, trên dép có số 619+6, đã qua sử dụng.

Giao cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng tiếp tục quản lý, để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định đối với một xe mô tô kiểu dáng Wave RS, màu tím trắng vàng, biển số 54K3-8920, số khung, số máy bị làm hư hỏng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 83P1-198.69, đã qua sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.282.000 đồng của bị cáo Lý Mỹ H để bảo đảm thi hành án.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Lý Mỹ H thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý bồi thường thiệt hại cho anh Q 25.650.000 đồng và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Lương Trung Ng: Không thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời sau cùng cho rằng việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” là oan sai đối với bị cáo .

- Bị hại anh Huỳnh Văn Q yêu cầu bị cáo Lý Mỹ H bồi thường 25.650.000 đồng, không có yêu cầu bị cáo Ng bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại bà Nguyễn Thị M, người làm chứng ông Thái Thanh B, Nguyễn Việt Th và Nguyễn Thị Thu Th: Thấy rằng, trong quá trình điều tra bị hại bà M không có yêu cầu các bị cáo bồi thường và những người làm chứng ông B, ông Th, bà Th đã có lời trình bày rõ ràng nên việc vắng mặt của bị hại và những người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo. Căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến xét xử vắng mặt đối với bị hại bà M và những người làm chứng ông B, ông Th, bà Th.

Về nội dung:

Tại phiên tòa bị cáo Lý Mỹ H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời thừa nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định và hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Lý Mỹ H, vào khoảng 10 giờ 17 phút ngày 08 tháng 01 năm 2022 có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, biển số 83Z1-069.93, qua định giá có giá trị 25.650.000 đồng tại quán cà phê Đại Lâm Mộc số 189, đường Lê Duẫn, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng của anh Q. Hình vi này của bị cáo Lý Mỹ H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, vào ngày 07 tháng 02 năm 2022 có hành vi dùng tay trái cướp giật sợi dây chuyền vàng 18K, qua định giá có giá trị 40.865.000 đồng của bà Nguyễn Thị M trước doanh nghiệp Cẩm Phong số 246-248, đường Mạc Đỉnh Chi, khóm 4, phường 9, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và làm tổn hại sức khỏe của bà M là 27%. Hành vi này của bị cáo Lý Mỹ H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lương Trung Ng không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như các file camera do cơ quan điều tra thu thâp được, hình ảnh cắt ra từ việc giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo H, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng:

Vào khoảng 09 giờ 47 phút ngày 08 tháng 01 năm 2022 bị cáo Nghĩa có dùng xe mô tô biển số 5xK2-89xx của Lý Mỹ H để chở Hằng lưu thông trên đường Lê Duẫn đến đoạn quán cà phê Đại Lâm Mộc thuộc khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng, bị cáo H phát hiện xe mô tô của anh Q còn gắn chìa khóa trên xe nên H nảy sinh ý định lấy trộm, H yêu cầu Ng điều khiển xe quay lại vào quán cà phê Đại Lâm Mộc. Lúc vào quán Ng dựng xe sát bên xe mô tô của anh Q do lúc này có khách vào nên không lấy được. H, Ng vào trong quán uống nước để chờ lúc vắng khách và không có ai quan sát cả hai đi ra ngoài, lúc này Ng lên xe của H, còn H lên xe của anh Q nổ máy chạy đến Trà Men bán được 4.000.000 đồng. Theo các biên bản hỏi cung ngày 03/8/2022 và ngày 06/8/2022 bị cáo H khai khi Ng chở H đến quán cà phê Đại Lâm Mộc thì H phát hiện có chiếc xe mô tô còn gắn chìa khóa trên xe, H kêu Ng quay lại Ng đồng ý nên Ng điều khiển xe quay lại quán và đậu xe sát xe anh Q; mục đích H, Ng quay đầu xe lại vào quán cà phê Đại Lâm Mộc là tìm cơ hội lấy trộm xe của anh Q. Việc bị cáo H, Ng vào quán cà phê Đại Lâm Mộc kêu nước uống nhằm để quan sát coi ai là chủ xe, có ai để ý hay trông coi xe mô tô hay không. Lúc H lấy xe của anh Q, Ng biết nhưng Ng không có ngăn cản. Xét thấy, giữa bị cáo H và bị cáo Ng có mối quan hệ thân thiết (có thời gian sống chung với nhau như vợ chồng), không có mâu thuẫn với nhau nên lời khai của bị cáo H là đúng sự thật khách quan và phù hợp với các hình ảnh cắt ra từ camera tại quán cà phê Đại Lâm Mộc. Hơn nữa, các đoạn camera mà Cơ quan điều tra thu giữ và được trình chiếu tại phiên tòa thể hiện sau khi bị cáo Ng, H vào quán cà phê Đại Lâm Mộc uống nước xong thì Ng là người đi ra trước và leo lên xe của H, sau đó H mới ra sau và leo lên xe của anh Q. Theo bị cáo H trình bày thì H không có nói với bị cáo Ng là H chạy xe của bạn về mà chỉ có kêu Ng chạy xe của H về dùm. Điều này thể hiện được Ng biết H lấy xe của người khác mà Ng không ngăn cản mà có hành vi chạy xe của H về dùm để cho H lấy trộm xe của anh Q. Ngoài ra, các đoạn camera cũng thể hiện được giữa Ng biết và Ng với H có sự bàn bạc trước, nên sau khi tính tiền nước xong một lúc, đợi quán vắng khách thì bị cáo Ng đi ra trước và leo ngay lên xe của H không có đợi H ra về cùng; còn H khi đi ra thì cũng leo ngay lên xe của anh Q, chứ không leo lên xe của H. Tại phiên tòa, bị cáo Ng thừa nhận người thanh niên trong đoạn camera là bị cáo. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Ng vào khoảng 10 giờ 17 phút ngày 08/01/2022 có hành vi giúp sức cho bị cáo H lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future Fi, biển số 83Z1-069.93 của anh Q, qua định giá có giá trị 25.650.000 đồng tại quán cà phê Đại Lâm Mộc số 189, đường Lê Duẫn, khóm 1, phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Hành vi của bị cáo Ng đã đủ yêu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự vai trò là người giúp sức tích cực cho bị cáo H.

Ngoài ra, vào ngày 07/02/2022 bị cáo Ng có hành vi dùng xe mô tô 83P1-198.69 của H chở Hằng lưu thông trên đường Mạc Đỉnh Chi, khi đến đoạn đường trước Trường trung học phổ thông Hoàng Diệu thì H phát hiện bà M trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng 18K, Ng điều khiển xe phía sau bà M đến đoạn đường trước doanh nghiệp tư nhân Cẩm Phong số 246-248, đường Mạc Đỉnh Chi, khóm 4, phường 9, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng thì Ng cho xe vượt và áp vào xe của bà M lúc này H dùng tay trái giật sợi dây chuyền của bà M. Mặc dù, bị cáo Ng không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng theo camera mà Cơ quan điều tra thu thập được và cũng được trình chiếu tại phiên tòa thể hiện trước khi bị cáo H giật sợi dây chuyền của bà M thì H có dùng tay phải ôm vào ngực của bị cáo Ng, khi bị cáo H giật sợi dây chuyền của bà M do sợi dây chuyền có trọng lượng lớn nên không đứt ra ngay, H tiếp tục dùng tay nắm sợi dây chuyền của bà M và kéo bà M thêm một đoạn đường thì hai xe mới va chạm vào nhau té ngã. Theo camera ghi nhận lại thì lúc bị cáo H nắm sợi dây chuyền của bà M có lúc xe bà M và xe bị cáo Ng đang điều khiển song song và áp sát gần nhau, lúc này tay trái của bị cáo H còn nắm sợi dây chuyền của bà Mai. Điều này, thể hiện Ng đương nhiên biết H đã có hành vi giật sợi dây chuyền của bà M nhưng Ng vẫn tiếp tục điều khiển xe để cho H giật sợi dây chuyền của bà M. Hơn nữa, theo lời khai của những người làm chứng (Bút lụt từ số 156 đến số 171) sau khi hai xe ngã xuống đường, lúc này Ng có hành vi dựng xe lên định chạy đi nhưng do người dân bắt giữ lại nên không chạy đi được, lúc này Ng đã biết H giật sợi dây chuyền của bà M mà còn có hành vi dựng xe lên chay để tẩu thoát. Các hành vi này của bị cáo Ng đã thể hiện có giúp sức cho bị cáo H giật sợi dây chuyền của bà M, qua định giá có trị giá 40.865.000 đồng của bà M và làm tổn hại sức khỏe của bà M là 27%. Do đó, có đủ cơ sở xác định hành vi của Ng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự với vai trò là người giúp sức cho bị cáo H.

Bị cáo Ng cho rằng bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo như cáo trạng truy tố là không có cơ sở chấp nhận như vừa phân tích tại mục [4.1] và mục [4.2].

Cáo trạng số 142/CT-VKS-TPST ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lý Mỹ H và Lương Trung Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, việc các bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này có hai bị cáo thực hiện nhưng giữa các bị cáo không có bàn bạc, phân công vai trò cụ thể nên không thuộc trường hợp đồng phạm có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, cụ thể như sau: Bị cáo H là người thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Ng là người giúp sức cho bị cáo H.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, nhận thấy cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của các bị cáo:

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng; không có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bị cáo là dân tộc khmer đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, vì tính đến ngày 07/01/2022 bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Q thì bị cáo chưa phạm tội lần nào và bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H. Trong vụ án này, bị cáo H là người thực hiện và có vai trò chính, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo H nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình mà thừa nhận hành vi phạm tội. Cho nên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần cân nhắc cho bị cáo H. Thấy rằng, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo H trong mức Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo. Do vào ngày 09/9/2022 bị cáo H bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 27/2022/HS-ST, bản án này hiện nay đã có hiệu lực phát luật, nên áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án để buộc bị cáo chấp hành chung cả hai bản án.

Bị cáo Ng không có tình tiết tăng nặng; không có tiền án, tiền sự; bị cáo nghĩa có 03 lần tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng đã xóa án tích và 01 lần tiền sự nhưng cũng được xóa tiền sự. Mặc dù, Ng không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng sau khi phạm tội bị cáo khai ra cụ thể hành vi của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Ng trong mức Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với hành vi của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Huỳnh Thị M: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bị hại Huỳnh Văn Q: Tại phiên tòa anh Q chỉ yêu cầu bị cáo Lý Mỹ H bồi thường thiệt hại số tiền 25.650.000 đồng, bị cáo H đồng ý bồi thường. Do đó, cần ghi nhận sự thỏa thuận của anh Q và bị cáo H. Cho nên, bị cáo H có nghĩa vụ bồi thường cho anh Q số tiền 25.650.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự những đồ vật nào không liên quan đến hành vi phạm tội cần phải trả lại cho các bị cáo xử lý như sau:

Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) mũ bảo hiểm loại nón sơn, màu xanh, trên nón có dòng chữ Nón Sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, sọc màu trắng - đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại vải Jean, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh có chữ BLLY, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép vai ngang, màu xám, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Ng: một nón bảo hiểm, loại nón sơn, màu xám, trên nón có dòng chữ Nón Sơn, đã qua sử dụng; một nón bằng vải, màu xanh, trên nón có dùng chữ Converse, màu đỏ, đã qua sử dụng; một áo thun ngắn tay, màu xanh, bên ngực trái có dòng chữ Asenal, màu trắng, đã qua sử dụng; một quần ngắn ngang đầu gối, loại quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng; một đôi dép quai kẹp, màu đen, trên dép có số 619+6, đã qua sử dụng.

Giao cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng tiếp tục quản lý, để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định đối với một xe mô tô kiểu dáng Wave RS, màu tím trắng vàng, biển số 54K3-8920, số khung, số máy bị làm hư hỏng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 83P1-198.69, đã qua sử dụng.

Tiếp tục tạm giữ số 1.282.000 đồng của bị cáo Lý Mỹ H để bảo đảm thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23; mục 1, phần I; điểm b mục 1.3, mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, các bị cáo phải chịu án phí như sau:

Về án phí hình sự: Mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng

Về án phí dân sự: Bị cáo H phải chịu là 1.282.500 đồng.

Xét lời đề nghị Kiểm sát viên về tội danh, việc áp dụng pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, mức hình phạt là có cơ sở chấp nhận như vừa phân tích nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Mỹ H.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 56 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Mỹ H.

Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 55 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Trung Ng.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Mỹ H và Lương Trung Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”.

1. Xử phạt:

1.1 Bị cáo Lý Mỹ H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 06 (sáu) năm 06 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 27/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng buộc bị cáo Lý Mỹ H chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2022.

1.2 Bị cáo Lương Trung Ng 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của 02 tội là 06 (sáu) năm 06 tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lý Mỹ H có trách nhiệm bồi thường cho anh Huỳnh Văn Q số tiền 25.650.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền 1.282.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo H. Bị cáo Lý Mỹ H còn phải bồi thường thêm cho anh Q số tiền 24.368.000 đồng.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, anh Q có đơn yêu cầu thi hành án bị cáo Hằng chưa bồi thường cho anh Q thì hàng tháng bị cáo H còn phải chịu thêm tiền lãi chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1 Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) mũ bảo hiểm loại nón sơn, màu xanh, trên nón có dòng chữ Nón Sơn, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, sọc màu trắng - đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi dài tay, loại vải Jean, màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dài, màu xanh có chữ BLLY, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép vai ngang, màu xám, đã qua sử dụng.

3.2 Trả lại cho bị cáo Ng: 01 (một) nón bảo hiểm, loại nón sơn, màu xám, trên nón có dòng chữ Nón Sơn, đã qua sử dụng; một nón bằng vải, màu xanh, trên nón có dùng chữ Converse, màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh, bên ngực trái có dòng chữ Asenal, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần ngắn ngang đầu gối, loại quần Jean, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu đen, trên dép có số 619+6, đã qua sử dụng.

3.3 Giao cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng tiếp tục quản lý, để điều tra làm rõ và xử lý theo quy định đối với một xe mô tô kiểu dáng Wave RS, màu tím trắng vàng, biển số 54K3-8920, số khung, số máy bị làm hư hỏng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 83P1-198.69, đã qua sử dụng.

3.4 Tiếp tục tạm giữ số 1.282.000 đồng của bị cáo Lý Mỹ H để bảo đảm thi hành án.

4. Về án phí sơ thẩm:

4.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lý Mỹ H, Lương Trung Ng mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4.2 Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lý Mỹ H phải nộp là 1.218.400 đồng.

5. Các bị cáo, bị hại Q được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại M được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ