vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2023). Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 14/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Hòa và ông Từ Hữu Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Quý, Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 14 tháng 03 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/TLST-HS ngày 23/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 27/02/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 19/11/1984, tại xã Th, huyện H, tỉnh H. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Thanh Quang, xã Th, huyện H, tỉnh H. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn T (Đã chết). Con bà Nguyễn Thị N - Sinh năm 1952. Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Hồ Thị D - Sinh năm 1986. Các con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012. Mẹ, vợ và con bị cáo hiện đang sinh sống tại thôn Thanh Quang, xã Th, huyện H, tỉnh H. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2022, đến ngày 22/12/2022 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, hiện đang trú tại thôn Thanh Quang, xã Th, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bị hại: Chị Trương Thị H, sinh năm 1996. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa chỉ: thôn Th, xã Th, huyện H, tỉnh H. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1987. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Địa chỉ: Khối phố 1, phường N, thành phố H. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 28/11/2022, Nguyễn Văn S trên đường đi làm về qua nhà của chị Trương Thị H, sinh năm 1996 ở tại thôn Th, xã Th, huyện H, tỉnh H thì nhìn thấy ở sân sau nhà chị Hồng có 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu xanh, biển kiểm soát 38M1 - 398.21 nên nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh thấy không có ai, S tiến đến gần chiếc xe mô tô, thấy chìa khóa đang cắm ở ổ khóa xe, S liền dắt xe ra ngoài cổng rồi khởi động xe và chạy về hướng thành phố Hà Tĩnh để tìm nơi bán chiếc xe này. Do chưa tìm được chỗ bán xe nên đưa chiếc xe này đến gửi tại nhà anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1987 ở khối phố 1, phường N, thành phố H rồi đón xe taxi đi về nhà.

Sáng ngày 19/12/2022, chị Trương Thị H đến Công an xã Th, huyện H trình báo về việc bị mất trộm xe mô tô. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình không thể trốn tránh được pháp luật nên Nguyễn Văn S đã đến Công an huyện H đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp chiếc xe mô tô đã trộm cắp của chị Hồng để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 64/KLĐG ngày 22/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, phản ánh: Giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số máy JA39E2192124, số khung RLHJA3929MY074824, biển kiểm soát 38M1 - 398.21, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá là 15.000.000 đồng.

Vật chứng đã thu giữ gồm: Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển kiểm soát 38M1 - 398.21, số máy JA39E2192124, số khung RLHJA3929MY074824, đã qua sử dụng.

Ngày 23/12/2022, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên CQCSĐT Công an huyện Thạch Hà đã trả lại chiếc xe mô tô này cho chị Trương Thị Hồng.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, chị Trương Thị H không có yêu cầu gì thêm.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 16/CT-VKS-TH, ngày 21 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn S từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Th quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Bị hại không có ý kiến gì tranh luận, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng, bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của ộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Những căn cứ xác định tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 28/11/2022, tại nhà chị Trương Thị H ở thôn Thanh Quang, xã Th, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn S đã lén lút lấy trộm của chị Hồng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, biển kiểm soát 38M1 - 398.21 có giá trị 15.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn S đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo”; “Đầu thú”, theo quy định tại điểm i, điểm s, Khoản 1 và Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, cần được xử lý nghiêm bằng chế tài hình sự để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ lòng tham nhất thời. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, từ trước đến nay không có vi phạm pháp luật gì, có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện để bị cáo có thể tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thạch Hà đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển kiểm soát 38M1

- 398.21 cho chủ sở hữu là chị Trương Thị H.

Việc trả lại các vật chứng này của Cơ quan cảnh sát điều tra là đúng quy định của pháp luật, chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, chị Trương Thị H không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Các vấn đề khác: Trong vụ án này có anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1987, đăng ký thường trú tại khối phố 1, phường N, thành phố H, tỉnh H - là người đã cho Nguyễn Văn S gửi chiếc xe mô tô trộm cắp được của chị Trương Thị H. Quá trình điều tra xác định khi cho S gửi xe tại nhà mình, anh Vũ hoàn toàn không biết chiếc xe này là tài sản do S phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Nguyễn Hữu V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2023).

Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã Th, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ