- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HS-ST Ngày 18 – 4 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Châu Ngọc
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh S, sinh năm 1966 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung B (chết) và bà Nguyễn Thị P (chết); vợ Nguyễn Thanh T và 02 người con (lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1984).
Tiền án: có 03 tiền án. Ngày 18/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Ngày 03/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tổng hợp bản án số 24 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình buộc Nguyễn Minh S chấp hành 01 năm 06 tháng tù. Ngày 15/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 21/5/2021 Nguyễn Minh S chấp hành xong án phạt tù.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/10/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 06 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 21/4/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 18 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 01/01/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 19/01/2022 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định 0020140/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/11/2022 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 18/11/2022 Nguyễn Minh S điều khiển xe mô tô biển số 64B1 – 356.88 đi từ nhà ở ấp P, xã T đến nhà chị ruột tên Nguyễn Thị N ở ấp M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để chơi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe trên đường lộ nhựa thuộc ấp I, xã M ra chợ C. Khi S điều khiển xe đến khu vực trước nhà ông Bùi Văn Tám N1 thuộc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì dừng xe cặp lộ để đi vệ sinh. Sau khi vệ sinh xong, S quan sát thấy nhà ông Tám N1 không có người bên trong nên nảy sinh ý định vào nhà tìm tài sản để lấy trộm. S dựng xe mô tô cặp lề đường rồi đi bộ vào bên trong nhà tìm tài sản để lấy trộm. Khi vào đến khu vực nhà bếp S1 phát hiện một điện thoại nhãn hiệu Iphone XS MAX của chị Nguyễn Thị Cẩm T1 đang sạc pin để trong mũ bảo hiểm đặt tại bộ ngựa. Sang quan sát thấy không có ai nên lén lút lấy trộm điện thoại di động này cất giấu vào bên trong người và đi nhanh ra xe mô tô điều khiển chạy đến chợ C. S ghé vào quán uống cà phê. Sau khi uống cà phê xong S điều khiển xe mô tô mang biển số 64B1-356.88 chạy về nhà trên tuyến đường hương lộ C.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, chị T1 sau khi làm cơm ở nhà bếp đi lên phía trước thì phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an xã M trình báo sự việc đồng thời nhờ người đi tìm kiếm theo định vị trên điện thoại. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1994 và anh Nguyễn Văn T2 sinh năm 1986 cùng ngụ ấp M, xã M phát hiện Nguyễn Minh S đang điều khiển xe đi trên đường H (hướng C - S) thuộc địa phận ấp E, xã P nên chặn lại yêu cầu kiểm tra thì S tự lấy điện thoại di động vừa lấy trộm được đưa ra. Anh H và anh T2 yêu cầu S quay lại hiện trường và trình báo Công an xã M.
Quá trình điều tra Nguyễn Minh S đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản phù hợp với lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đồng thời tự nguyện giao nộp tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 44/KL.ĐGTS ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận giá trị tài sản định giá là một điện thoại di động Iphone XsMax, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng có giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Về thu giữ đồ vật, tài liệu: Nguyễn Minh S đã tự nguyện giao nộp cho Công an xã M, huyện T một điện thoại di động Iphone XsMax, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng; một xe mô tô mang biển số 64B1-356.88 đã qua sử dụng và một giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1974, địa chỉ: T, T, thành phố V, biển số 64B1-356.88.
Quá trình xác minh xe mô tô mang biển số 64B1-356.88 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Minh S, xe mô tô trên được S mua lại của bà Nguyễn Ngọc T3 nhưng chưa sang tên.
Ngày 07/12/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định xử lý vật chứng số 37 trả lại tài sản là một điện thoại di động Iphone XsMax, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng cho chị Nguyễn Thị Cẩm T1.
Ngày 12/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 03 trả lại tài sản gồm một xe mô tô mang biển số 64B1-356.88 đã qua sử dụng và một giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 64B1-356.88 mang tên Nguyễn Ngọc T3 cho Nguyễn Minh S (Bút lục 106-107).
Về hình sự: Chị Nguyễn Thị Cẩm T1 đề nghị xử lý hành vi của Nguyễn Minh S theo đúng quy định của pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Cẩm T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự (Bút lục số 44).
Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKSTB ngày 30/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Minh S thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh S về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B1) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, biên bản hỏi cung bị can cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/11/2022, bị cáo Nguyễn Minh S điều khiển xe mô tô biển số 64B1 – 356.88 đi từ nhà ở ấp P, xã T đến nhà chị ruột tên Nguyễn Thị N ở ấp M, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để chơi. Khi đến trước nhà ông Bùi Văn Tám N1 thuộc ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, S quan sát thấy nhà ông Tám N1 không có ai, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên S đã lén lút lấy trộm một điện thoại di động Iphone XsMax, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị Cẩm T1 trị giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có sức khỏe lại không chịu chí thú làm ăn. Bị cáo với thái độ thích thụ hưởng, lười lao động để có tiền phục vụ tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 06 bản án xét xử bị cáo về hành vi chiếm đoạt tài sản, trong đó có 03 tiền án chưa xóa án tích: Ngày 18/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Ngày 03/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, tổng hợp bản án số 24 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình buộc Nguyễn Minh S chấp hành 01 năm 06 tháng tù. Ngày 15/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 21/5/2021 Nguyễn Minh S chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận. Bị cáo đã chấp hành nhiều Bản án tù về tội Trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tài sản nhưng không sửa đổi. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có chú ruột Nguyễn Minh V là Liệt sĩ, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo S phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Minh S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Vĩnh Long - VKSND huyện Tam Bình; - Chi cục THADS huyện Tam Bình; - CQĐT Công an huyện Tam Bình; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tam Bình; - Bị cáo; - Bị hại; - UBND xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |