vanban.org

Bản án 17/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 20/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/10/2022. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BC Nguyễn Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HS-ST
Ngày: 20/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Dũng

Ông Tống Văn Tư

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1979 tại Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Tấn sinh năm 1955 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thiêu, sinh năm 1959; Bị cáo có chồng tên Phan Ngọc Phương, sinh năm 1975 (đã chết); có 02 con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ vào ngày 23/10/2022 cho đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Chị Huỳnh Thị Thu, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 23/10/2022, chị Huỳnh Thị Thu, sinh năm1982 thường trú ấp Hậu Phú 3, xã Hậu Mỹ Bắc A, huyện Cái Bè hành nghề buôn bán hột vịt tại chợ Hậu Mỹ Trinh thuộc ấp Mỹ Tường B, xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè đang ngồi bán hột vịt trong chợ Hậu Mỹ Trinh, khu vực trước cửa nhà của ông Nguyễn Văn Giàu; lúc này có vài người đang ngồi mua hột vịt thì Nguyễn Thị L đến ngồi xuống giả vờ mua hột vịt, lợi dụng chị Thu không cảnh giác, L lén lút dùng tay phải thò vào túi áo khoác bên trái của chị Thu trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 kiểu máy V2111, phiên bản màu Diamond Glow, Ram 4Gb, bộ nhớ 64Gb. Trong lúc L trộm cắp điện thoại của chị Thu thì bị bà Nguyễn Thị Điệp, sinh năm 1956 thường trú ấp Mỹ Tường B, xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cùng ngồi mua hột vịt nhìn thấy nên truy hô, khi L cầm điện thoại trộm cắp bỏ đi được khoảng 6m thì chị Thu và bà Điệp chạy theo giữ L lại, thì L trả điện thoại lại cho chị Thu rồi tiếp tục bỏ đi. Sau đó, người dân bắt giữ L giao cho Công an xã Hậu Mỹ Trinh giải quyết.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 70/KLĐG-TTHS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Điện thoại di động hiệu Vivo Y21 kiểu máy V2111, phiên bản màu Diamond Glow, Ram 4Gb, bộ nhớ 64Gb có trị giá là 3.330.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án gồm: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 kiểu máy V2111, phiên bản màu Diamond Glow, Ram 4Gb, bộ nhớ 64Gb có trị giá là 3.330.000 đồng. Ngày 02/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè đã trao trả tài sản cho chị Huỳnh Thị Thu.

Về trách nhiệm dân sự: chị Huỳnh Thị Thu đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSCB ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị: Bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, bị cáo xin được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị L đã thừa nhận khoảng 07 giờ ngày 23/10/2022 tại chợ Hậu Mỹ Trinh, trước nhà ông Nguyễn Văn Giàu thuộc ấp Mỹ Tường B, xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 kiểu máy V2111 của chị Huỳnh Thị Thu trị giá là 3.330.000 đồng. Lời thừa nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo nhận thức được rằng trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã trộm tài sản của bị hại thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng trong vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Huỳnh Thị Thu không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/10/2022.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt thì thời hạn trên tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ