- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 c a Bộ luật tố tụng h nh sự.
- Căn cứ chính? Điều 5 Bộ luật h nh sự; Điều 74 Bộ luật H nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HS-PT Ngày: 20-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tồn
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tiến
Ông Trần Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án h nh sự thụ lý số 564 2022 TLPT-HS ngày 09 tháng 2 năm 2022 đối v i b cáo Nguy n Đ c T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do c kháng cáo c a b cáo đối v i Bản án h nh sự s thẩm số 66 2022 HS-ST ngày 27 0 2022 c a Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đức T, sinh ngày tháng 02 năm 970 tại tỉnh Phú Thọ; n i đăng ký hộ khẩu thư ng trú và ch ở: thành phố Hà Nội; gi i tính: Nam; quốc t ch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; tr nh độ học vấn: 2 2; nghề nghiêp: Kinh doanh; con ông Nguy n Xuân T (đã chết) và bà Phạm Th S, sinh năm 943; gia đ nh c 06 ch em, b cáo là con th ba; c vợ là Nguy n Th N (sinh năm 977) và 02 con (sinh năm 994 và 200 ); Tiền án, tiền sự: không; B bắt tạm giam ngày 5 202 , đến ngày 24 0 2022 được thay thế bi n pháp tạm giam bằng bi n pháp bảo lĩnh. Hi n b cáo đang tại ngoại. C mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vợ chồng ông Đ Ngọc Q và bà Hồ Th V c con trai là anh Đ Phan A đang đi nghĩa vụ Công an tại Công an tỉnh Quảng Nam, đến tháng 9 20 8 th ra quân nhưng nguy n vọng c a ông Q và bà V là muốn xin cho anh Đ Phan A được biên chế ngành Công an khi kết thúc th i gian nghĩa vụ.
Tháng 6 20 6, ông Lê Mạnh H (đang công tác tại Phòng an toàn, bảo hộ lao động thuộc Bộ Tham mưu Tổng cục Kỹ thuật c a Bộ Quốc phòng), c chuyến công tác tại Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam nên c đến nhà ông Đ Ngọc Q để thăm ch i. Qua trò chuy n, ông H biết được vợ chồng ông Q và bà V c con trai là Đ Phan A đang đi nghĩa vụ tại Công an tỉnh Quảng Nam đến tháng 9 20 8 th ra quân và mong muốn Đ Phan A được đi học để biên chế vào ngành Công an nên ông H bảo v i ông Q và bà V rằng: ông H c quen biết Nguy n Đ c T đang công tác tại Thanh tra Bộ Công an (ch c vụ Trung tá), c quan h quen biết v i nhiều ngư i c ch c vụ, c thể lo cho Đ Phan A được đi học để được biên chế ngành Công an, ông H h a sẽ n i để T giúp cho ông Q và bà V.
Năm 20 7, ông Đ Ngọc Q c chuyến đi công tác tại Hà Nội nên bà V đã đi cùng ông Q. Đến Hà Nội, ông Q đi n thoại cho ông H nh ông H sắp xếp cho vợ chồng ông Q và bà V được gặp ông T th ông H hẹn vợ chồng ông Q và V đến quán C tại thành phố Hà Nội. Tại đây, ông H đã gi i thi u cho vợ chồng ông Q và bà V gặp Nguy n Đ c T và n i rằng T đang làm Công an, sau đ mọi ngư i ăn uống rồi ra về. Hôm sau, theo chỉ dẫn c a ông H, vợ chồng ông Q, bà V đến Salon xe ô tô c a T (ở tại thành phố Hà Nội) để gặp T trao đổi nh T lo cho anh Đ Phan A được đi học để được biên chế ngành Công an. Lúc này, T đã lợi dụng l i gi i thi u không đúng c a ông H về T để đưa ra l i n i gian dối v i vợ chồng ông Q và bà V rằng: T sẽ nh ngư i lo (chạy) cho Đ Phan A được đi học trư ng Công an để được biên chế ngành Công An v i chi phí để “chạy” lo th tục là .000.000.000 đồng. Do số tiền T yêu cầu quá l n, ông Q và bà V không đồng ý nên đã ra về mà không đề cập đến vi c nh T lo cho Đ Phan A nữa.
Đến khoảng tháng 9 20 7, v i ý đ nh chiếm đoạt tiền c a vợ chồng ông Q để tiêu xài cá nhân nên Nguy n Đ c T đã đi n thoại cho ông Q và thông báo là T sẽ lo cho Đ Phan A được đi học để biên chế ngành Công an v i chi phí là 600.000.000 đồng. Ông Q và bà V đã tin tưởng l i n i c a T là thật nên đã đồng ý v i số tiền T yêu cầu.
Ngày 25 9 20 7, T sử dụng số thuê bao 0978846868 nhắn tin vào số đi n thoại 09 3480596 c a ông Q để cung cấp 02 tài khoản ngân hàng: tài khoản số 9020823952688 mở tại Ngân hàng T - Chi nhánh T, Hà Nội và tài khoản số 2884076 mở tại Ngân hàng V - Chi nhánh T, Hà Nội (đều đ ng tên Nguy n Đ c T).
Ngày 26 9 20 7, bà V đến Ngân hàng T-Chi nhánh Quảng Nam chuyển vào tài khoản số 9020823952688 c a T số tiền 400.000.000 đồng. Tiếp tục, ngày 2 3 20 8, bà V đến Ngân hàng V-Chi nhánh Quảng Nam chuyển đến tài khoản số 2884076 c a T số tiền 200.000.000 đồng, tổng cộng là 600.000.000 đồng theo yêu cầu c a T để lo cho Đ Phan A được đi học để vào biên chế ngành Công an. Sau khi chuyển cho T số tiền 600.000.000 đồng, ông Q thư ng xuyên đi n thoại cho T để nhắc vi c th T h a hẹn ch đến khi Đ Phan A ra quân vào tháng 9 20 8 sẽ lo cho Đ Phan A đi học để vào biên chế ngành Công an. Đến tháng 9 20 8, Đ Phan A xuất ngũ về lại đ a phư ng nhưng không được đi học và vào biên chế ngành Công an như T đã h a. Ngày 02 0 20 9, ông Q chết do b b nh nặng. Sau th i gian ông Q chết, bà V nhiều lần sử dụng số thuê bao 0772350885 gọi đi n thoại cho T yều cầu T trả lại số tiền 600.000.000 đồng nhưng T không trả và cắt liên lạc. Bà V đã đi n thoại cho ông Lê Mạnh H nh ông H tác động T trả tiền lại cho bà V nhưng T vẫn không trả tiền cho bà V.
Nghi ng Nguy n Đ c T c hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bà V đã tr nh báo đến Thanh tra Bộ Công an, Công an thành phố Hà Nội. Sau đ , bà V nhận Văn bản số 2620 HD-X05-P6 ngày 24 8 2020 c a Thanh Tra Bộ Công an trả l i và xác nhận: Thanh tra Bộ Công an không c cán bộ, chiến sĩ nào c tên Nguy n Đ c T c thông tin đ a chỉ nêu trong đ n tr nh báo c a bà V và hư ng dẫn bà V tố giác đến Công an thành phố Hà Nội. Sau đ , Công an thành phố Hà Nội đã chuyển đ n tố giác c a bà V đến Công an thành phố Tam Kỳ kiểm tra, xác minh và chuyển hồ s đến C quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam giải quyết theo thẩm quyền.
* Ông Lê Mạnh H khai nhận: qua nhiều lần giao lưu gặp gỡ bạn bè tại quán Chim Tr i, ông H biết Nguy n Đ c T và c nghe n i (không nh ai n i), T đang công tác tại Thanh tra Bộ Công an, cấp bậc: Trung tá nên ông H nghĩ là thật. Do đ , khi gặp và nghe ông Q và bà V mong muốn con trai (Đ Phan A) được đi học để biên chế ngành Công an th ông H đã gi i thi u T để ông Q gặp trao đổi v i T giúp cho Đ Phan A được đi học để được biên chế vào ngành Công an. Vi c ông Q và T trao đổi thỏa thuận v i nhau như thế nào ông H không tham gia, không giúp s c và cũng không hưởng lợi g từ vi c T nhận tiền c a ông Q và bà V. Sau khi sự vi c xảy ra, T không trả tiền lại cho bà V nên bà V nhiều lần đi n thoại cho ông H để nh ông H tác động T trả tiền cho bà V. Lúc này, ông H m i biết T đã nhận c a ông Q và bà V số tiền 600.000.000 đồng nhưng không lo cho Đ Phan A được đi học để được biên chế vào ngành Công an, ông H đã đi n thoại cho T yêu cầu T trả lại tiền cho bà V nhưng T không trả.
* Trong quá tr nh giải quyết nguồn tin tội phạm và điều tra ban đầu, T không thừa nhận hành vi phạm tội c a m nh v lo sợ và nghĩ rằng hành vi phạm tội c a T sẽ không ai phát hi n và điều tra cũng không quy buộc được (do ông Q đã chết sẽ không còn ai chứng minh nội dung T nhận tiền để lo cho Đỗ Phan A như T và ông Q đã thỏa thuận) nên đã khai nhận là nhận tiền giúp cho ông Q. Sau đ , T nhận th c được hành vi phạm tội c a m nh cùng v i l i động viên c a gia đ nh, ngư i bào chữa nên đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp v i l i khai c a ngư i b hại, ngư i c quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngư i làm ch ng và các tài li u, ch ng c mà C quan điều tra đã thu thập được. Đồng th i Nguy n Đ c T đã tác động gia đ nh bồi thư ng toàn bộ số tiền 600.000.000 đồng cho ngư i b hại.
* Về vật ch ng: bà Hồ Th V đã giao nộp cho C quan điều tra 03 (ba) USB, trong 03 (ba) USB c lưu giữ các file ghi âm cuộc gọi c a bà V cho ông Nguy n Đ c T để yêu cầu ông T trả lại số tiền 600.000.000 đồng và gọi cho ông Lê Mạnh H để nh ông H tác động ông T trả lại tiền; 0 (một) đi n thoại di động hi u Philips màu đen bên trong c số thuê bao 09 3480596, theo bà V tr nh bày đây là đi n thoại c a ông Đ Ngọc Q sử dụng lúc còn sống dùng để liên lạc v i Nguy n Đ c T.
T i B n n h nh
thẩm
/2022/HSST ngày 2 /10/2022 c a T a n nh n d n t nh Qu ng Nam đã uy t đ nh:
Căn c điểm a khoản 4 Điều 74; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 , Điều 54 c a Bộ luật H nh sự năm 20 5 (sửa đổi, bổ sung năm 20 7).
- Tuyên bố: B cáo Nguy n Đ c T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: B cáo Nguy n Đ c T 07 (Bảy) năm tù. Th i hạn chấp hành h nh phạt tù được tính từ ngày b cáo b bắt đi chấp hành án (được trừ th i gian tạm giam từ ngày 5 202 đến ngày 24 0 2022).
Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhi m dân sự, phần xử lý vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh c a pháp luật.
Ngày 07/11/2022, b cáo Nguy n Đ c T c đ n kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt.
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng c quan điểm về vi c giải quyết vụ án như sau: Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo c a b cáo giữ nguyên Bản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn c vào các tài li u trong hồ s vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
[ ] Về tố tụng: B cáo Nguy n Đ c T hi n đang tại ngoại được tri u tập hợp l lần th hai nhưng vắng mặt v lý do s c khỏe, vi c vắng mặt b cáo không cản trở vi c xét xử vụ án, do vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy đ nh tại điểm c khoản Điều 35 BLTTHS.
[2] Theo các tài li u c tại hồ s vụ án cũng như đ n kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt, b cáo Nguy n Đ c T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a b cáo đúng như Cáo trạng đã truy tố. Xét thấy, l i khai nhận tội c a b cáo hoàn toàn phù hợp v i l i khai c a b hại, ngư i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngư i làm ch ng, vật ch ng thu giữ và các tài li u, ch ng c khác c tại hồ s vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử c đ c sở kết luận:
Mặc dù không công tác trong ngành Công an, nhưng Nguy n Đ c T đã lợi dụng l i gi i thi u c a ông Lê Mạnh H v i vợ chồng ông Đ Ngọc Q và bà Hồ Th V là T đang công tác trong ngành Công an để đưa ra l i n i gian dối, h a hẹn về vi c sẽ lo (chạy) cho Đ Phan A là con trai c a ông Đ Ngọc Q và bà Hồ Th V được đi học trư ng Công an để được biên chế ngành Công an, từ đ làm cho vợ chồng ông Q và bà V tin tưởng là thật nên đã chuyển vào tài khoản c a T số tiền 600.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền c a ông Q và bà V, T không thực hi n vi c lo (chạy) cho Đ Phan A được đi học trư ng Công an để được biên chế ngành Công an như đã h a hẹn mà chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên c a b cáo Nguy n Đ c T đã đ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng điểm a khoản 4 Điều 74 Bộ luật H nh sự để xét xử b cáo là đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt c a b cáo th thấy;
Hội đồng xét xử s thẩm đã đánh giá đúng tính chất m c độ hành vi phạm tội c a b cáo, xem xét áp dụng đầy đ các t nh tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 Bộ luật h nh sự như: B cáo c nhân thân tốt, chưa c tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội. B cáo không c t nh tiết tăng tặng trách nhi m h nh sự. B cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội c a m nh; b cáo đã tác động gia đ nh bồi thư ng cho ngư i b hại Hồ Th V toàn bộ số tiền 600.000.000 đồng; được ngư i b hại xin giảm nhẹ h nh phạt cho b cáo; b cáo c cha (ông Nguy n Xuân Thành) là ngư i c công v i cách mạng, được nhà nư c tặng thưởng nhiều huân chư ng. Do b cáo c nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhi m h nh sự nên Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật h nh sự xử phạt b cáo m c án 07 năm tù dư i m c thấp nhất c a khung h nh phạt là đã chiếu cố cho b cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm b cáo không xuất tr nh được tài li u ch ng c và các t nh tiết giảm nhẹ trách nhi m h nh sự m i. Do đ , HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt c a b cáo.
[4] Các phần khác c a bản án s thẩm không c kháng cáo, kháng ngh đã c hi u lực pháp luật.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên b cáo Nguy n Đ c T phải ch u án phí h nh sự phúc thẩm.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm a khoản Điều 355 và Điều 356 c a Bộ luật tố tụng h nh sự.
Không chấp nhận kháng cáo c a b cáo, giữ nguyên Bản án s thẩm.
. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 74; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 , Điều 54 c a Bộ luật H nh sự năm 20 5 (sửa đổi, bổ sung năm 20 7).
- Tuyên bố: B cáo Nguy n Đ c T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: B cáo Nguy n Đ c T 07 (Bảy) năm tù. Th i hạn chấp hành h nh phạt tù được tính từ ngày b cáo b bắt đi chấp hành án (được trừ th i gian tạm giam từ ngày 5 202 đến ngày 24 0 2022).
2. Về án phí: B cáo Nguy n Đ c T phải ch u 200.000 án phí h nh sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác c a Bản án s thẩm không c kháng cáo, kháng ngh đã c hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng ngh .
4. Bản án phúc thẩm c hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
N i nhận:
| - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Quảng Nam; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Quảng Nam; - C quan CSTHAHS - Công an tỉnh Quảng Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Cục THADS tỉnh Quảng Nam; - B cáo; - Trại tạm giam công an tỉnh Quảng Nam; - Ngư i tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tồn |