vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Giang S. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Giang S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-5-2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải, ông Y Dhiệu Hmok.

Thư ký phiên tòa: Ông Y Sơ Mi Niê Kđăm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã B: Ông Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1992; có mặt

Trú tại: Số 45 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Giang S, sinh năm 1989; vắng mặt

Trú tại: Thôn T 4, xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/7/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày có nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Giang S quen biết tìm hiểu và tự nguyện về sống chung với nhau từ năm 2013. Có đăng ký kết hôn từ ngày 12 tháng 11 năm 2013, tại Uỷ ban nhân dân xã C, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc, sau khi về chung sống với nhau thì hạnh phúc được một thời gian, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không cùng chung quan điểm sống, anh S thường xuyên nghiện ma túy, không lo làm ăn và không chăm sóc cho gia đình. Chị L và anh S đã ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2018 đến nay. Nay chị L cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L đề nghị Tòa án xem xét cho chị L được ly hôn với anh S.

Về con chung: Quá trình chung sống chị L và anh S có với nhau 01 con chung là cháu: Nguyễn Phạm Ý A, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2017. Hiện nay cháu đang sống cùng với chị Phạm Thị L. Nay ly hôn thì Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc con chung cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu Anh S phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Giang S mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng Anh S đều vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt Anh S theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, chị Phạm Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 28-10-2022 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo; Ngày 04-11-2022, Toà án Thông báo nộp tạm ứng án phí; ngày 25-11-2022 nguyên đơn có đơn trình bày về việc không nộp tạm ứng án phí; ngày 25-11-2022 Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí; ngày 25-11-2022 nguyên đơn nộp tạm ứng án phí. Tòa án thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Giang S là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vợ chồng tự nguyện đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống chị Phạm Thị L xác định vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không cùng chung quan điểm sống, Anh S thường xuyên nghiện ma túy, không lo làm ăn và không chăm sóc cho gia đình. Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Giang S đã ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2018 đến nay.

Qua xác minh tại chính quyền đia phương về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Giang S thì địa phương cung cấp quá trình chung sống tại địa phương giữa Chị L và Anh S thì chính quyền địa phương không nắm được, vì khi xảy ra mâu thuẫn thì Chị L và Anh S không trình báo gì với chính quyền địa phương, nhưng hiện tại tại Chị L và Anh S đã sống ly thân với nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa Chị L và Anh S đã vi phạm đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho Chị L ly hôn Anh S là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm Ý A, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2017, hiện nay cháu A đang sống cùng với Chị L.

Xét nguyện vọng của Chị L xin được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Phạm Ý A cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

HĐXX thấy rằng từ khi Chị L và Anh S ly thân cho đến thời điểm hiện tại thì cháu A đang sống cùng với Chị L, nên cần chấp nhận nguyện vọng của Chị L là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.

Về tài sản chung và công nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.

Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Giang S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Giang S.

2. Về con chung:

Giao con chung là Nguyễn Phạm Ý A, sinh ngày 17/02/2017 cho chị Phạm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Anh Nguyễn Giang S có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0018306 ngày 25-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.

Bị đơn anh Nguyễn Giang S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ