- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngọc Phú"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST Ngày 21/4/2023 “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quang Thanh
2. Ông Nguyễn Phú Hữu
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2023/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 66/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng N, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Số 379, đường H, Tổ 8, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đ.
- Bị đơn: Anh Đặng Hoàng P, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Số 216, đường N, tổ 48, khóm 5, phường 6, thành phố C, tỉnh Đ.
(Chị N có mặt và anh P vắng mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY:
- Tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Hồng N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng N và anh Đăng Hoàng P kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố C, tỉnh Đ (giấy chứng nhận kết hôn số 75, ngày 01/8/2014). Cuộc sống hôn nhân ban đầu hạnh phúc, có 01 con chung. Đến năm 2020 vợ chồng xãy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm về cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình. Anh Pham chơi, thường xuyên tụ tập bàn bè chơi bời liêu lỏng, không quan tâm chăm sóc gia đình. Chị N đã nhiều lần góp ý nhưng anh P vẫn không thay đổi dẫn đến mục đích xây dựng gia đình không đạt được. Hiện nay mâu thuẫn gia đình vẫn không cải thiện và ngày càng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, vợ chồng không còn chung sống. Nay chị N yêu cầu được ly hôn với anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Huỳnh A, sinh ngày 22/11/2014, hiện nay con chung đang sống với chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Đặng Hoàng P không có văn bản ý kiến nộp cho Tòa án và vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Đặng Hoàng P và yêu cầu nuôi con chung nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn và nuôi con theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Đặng Hoàng P có địa chỉ tại Số 216, đường N, tổ 48, khóm 5, phường 6, thành phố C, tỉnh Đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng bị đơn là anh Đặng Hoàng P vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh P kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 6, thành phố C, tỉnh Đ được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 75/2014, ngày 01/8/2014 nên là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị N trình bày, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không cùng quan điểm. Đến năm 2020 vợ chồng xãy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm về cuộc sống, không có tiếng nói chung trong gia đình. Anh P ham chơi, thường xuyên tụ tập bàn bè chơi bời liêu lỏng, không quan tâm chăm sóc gia đình. Chị N đã nhiều lần góp ý nhưng anh P vẫn không thay đổi dẫn đến mục đích xây dựng gia đình không đạt được. Hiện nay mâu thuẫn gia đình vẫn không cải thiện và ngày càng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn chung sống. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị N yêu cầu được ly hôn với anh P. Tại phiên tòa, chị N vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh Phú.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh P không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị N, thể hiện anh P không quan tâm đến tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa chị N và anh P đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm, không còn yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình quy định khi đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N về việc yêu cầu ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị N và anh P có một con chung tên Đặng Huỳnh Anh, sinh ngày 22/11/2014, hiện nay con chung đang sống với chị N.
Sau khi ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, con chung đang sống với chị N đã ổn định, ý kiến của con chung có nguyện vọng được sống với chị N; trong quá trình thu thập chứng cứ, anh P không có ý kiến về con chung. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N về việc yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự trình bày không có nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân theo khoản 2 Điều 147 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Anh P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Hồng N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng N được ly hôn với anh Đặng Hoàng P.
- Về con chung: Chị Trần Thị Hồng N được tiếp tục nuôi con chung là Đặng Huỳnh A, sinh ngày 22/11/2014.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 0011995, ngày 01/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, (chị N đã nộp xong).
Anh Đặng Hoàng P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP Cao Lãnh; - Chi Cục THADS TP Cao Lãnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Thọ |