vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 22/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Trúc H về “Ly hôn” với ông Wong Victor L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Trúc H được ly hôn với ông Wong Victor L. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Trúc H về “Ly hôn” với ông Wong Victor L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-5-2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Bình Tân

2. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Vi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2021/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2021 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, giữa các đương sự:

Nguyên Đơn: Bà Huỳnh Trúc H, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số 02, đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường C, thành phố C, tỉnh K. Vắng mặt.

Bị Đơn: Ông Wong Victor L, sinh năm 1971.

Địa chỉ: 9322 Rose St Rosemead City CA 91770, USA. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Huỳnh Trúc H trình bày: Bà và ông Wong Victor L kết hôn sau quá trình tìm hiểu và yêu thương nhau trên tinh thần tự nguyện, đã kết hôn vào năm 2015 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07/2015, Quyển số 01/2015, ngày 05/01/2015 tại Ủy ban nhân dân tỉnh K.

Sau khi kết hôn, vợ chồng có khoảng thời gian sống chung với nhau là một tháng. Từ ngày 06 tháng 01 năm 2015 ông Wong Victor L trở về nước, thì bà và ông Wong Victor L xảy ra nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Tuy vậy, hai bên vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại khoảng một năm, nhưng kể từ năm 2017 đến nay bà và ông Wong Victor L không còn liên lạc với nhau nữa.

Khi bà nộp đơn khởi kiện ly hôn ông Wong Victor L tại Tòa án nhân dân tỉnh K, bà đã cố gắng liên hệ với ông Wong Victor L để giải quyết việc ly hôn, nhưng ông Wong Victor L từ chối hòa giải, cũng như thực hiện việc trình bày ý kiến để gửi về Tòa án nhân dân tỉnh K, như bà đã cam kết với Tòa án (ngày 28 tháng 12 năm 2021, bà có nhờ người em họ tên Lê Huỳnh Trâm A đến gia hạn về thời gian triệu tập của Tòa án và nộp lại bản tự khai của ông Wong Victor L). Bà đã cố gắng hòa giải tuy nhiên không thành, vì vậy bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Wong Victor L.

Về con chung: Bà và ông Wong Victor L không có con chung

Về tài sản chung: Bà và ông Wong Victor L không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà H khai không có.

Vì lý do bà H phải thường xuyên đi công tác xa, nên bà H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

* Bị đơn ông Wong Victor L đã được Tòa án tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng và thu thập lời khai của bị đơn theo địa chỉ của nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định và nhận được văn bản số 3900/CH-BTP ngày 30/12/2022 của Bộ Tư pháp thông báo về việc đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ để thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp. Ngày 15/5/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhận được Văn bản số 915/BTP-PLQT của Bộ Tư pháp về việc Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Wong Victor L vào ngày 17/02/2023, nhưng đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được phản hồi của ông Wong Victor L.

Ngoài ra, Tòa án cũng đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Wong Victor L qua đường bưu điện; niêm yết các văn bản tố tụng tại trụ sở và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh K và niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Wong Victor L tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, nhưng đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được phản hồi của ông Wong Victor L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K phát biểu:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Trúc H được ly hôn với ông Wong Victor L; về án phí nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn:

Nguyên đơn bà Huỳnh Trúc H đã có bản tự khai và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Wong Victor L hiện đang sống ở Hoa Kỳ. Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng thông báo về thời gian tham gia tố tụng tại Tòa án thông qua địa chỉ do nguyên đơn cung cấp thông qua đường bưu điện, Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ và Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, tuy nhiên ông Wong Victor L không có phản hồi. Căn cứ khoản 3 Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh K tiến hành niêm yết thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh K, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K và Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Huỳnh Trúc H tự nguyện kết hôn với ông Wong Victor L và được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2015, Quyển số 01/2015, ngày 05 tháng 01 năm 2015, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau một thời gian ngắn (một tháng) thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm nên vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung. Theo bà H trình bày sau khi ông Wong Victor L trở lại Mỹ sinh sống và làm việc, từ năm 2017 đến nay bà và ông Wong Victor L không còn liên lạc với nhau nữa. Bà H đã nhiều lần liên lạc với ông Wong Victor L để hòa giải và giải quyết việc ly hôn nhưng không thể liên lạc được với ông Wong Victor L, vì vậy bà H đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Wong Victor L.

Xét thấy: Mặc dù, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Wong Victor L qua con đường ủy thác tư pháp và qua đường bưu điện, nhưng ông Wong Victor L vẫn không có văn bản trình bày ý kiến. Điều đó cho thấy ông Wong Victor L không quan tâm đến quan hệ hôn nhân này, cũng như không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân. Như vậy, cuộc sống chung giữa bà Hà và ông Wong Victor L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được là có cơ sở. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Trúc H về ly hôn với ông Wong Victor L.

Về con chung: Bà Huỳnh Trúc H xác định không có con chung, nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Trúc H trình bày không có, nên tách phần tài sản ra để giải quyết trong một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí, chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Trúc H là nguyên đơn, phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí tố tụng về việc ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 5 Điều 477; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Trúc H về “Ly hôn” với ông Wong Victor L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Trúc H được ly hôn với ông Wong Victor L.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Tách phần tài sản ra để giải quyết trong một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí, chi phí tố tụng:

4.1. Về án phí: Bà Huỳnh Trúc H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009792 ngày 05/11/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh K. Vậy bà Huỳnh Trúc H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

4.2. Về chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Trúc H phải chịu chi phí dịch thuật và ủy thác theo đường bưu chính. Bà Huỳnh Trúc H đã nộp 5.000.000đ (Năm triệu đồng), sau khi bà H thực hiện các chi phí nói trên, số tiền còn lại bà Huỳnh Trúc H liên hệ với Thủ quỹ của Tòa án nhân dân tỉnh K để nhận lại.

5. Quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Trúc H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Ông Wong Victor L ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn một tháng kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ