vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn chị Phan Thị P. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/5/2017 và Nguyễn Na N, sinh ngày 30/01/2019 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao con chung Nguyễn Khánh A, sinh ngày 15/10/2021 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nguyễn Văn Lý và Phan Thị Phương"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27 - 3 - 2023.
(V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. ông Nguyễn Đình Bảng

2. ông Nguyễn Xuân Dũng

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Bá Kiên - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa:

Không tham gia.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án “Tranh chấp Hôn nhân & Gia đình” thụ lý số: 479/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐST - HNGĐ ngày 24/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 99/2023/QĐST-DS ngày 15/3/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L – sinh năm 1989. Có mặt

Địa chỉ cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Chị Phan Thị P – sinh năm 1990. Vắng mặt lần thứ 2

Địa chỉ cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh và chị Phan Thị P kết hôn vào ngày 09/3/2016 tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau đến tháng 5 năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách không phù hợp, hai bên không có sự tôn trọng và thương yêu nhau khiến tình cảm ngày càng rạn nứt. Sau khi mâu thuẫn xảy ra thì vợ chồng đã được gia đình và ban xóm đã hòa giải nhiều lần, tuy nhiên vẫn không được cải thiện. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 5/2022 cho đến nay không còn quan tâm, trách nhiệm với nhau nữa. Anh L xác định tình cảm đối với chị P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn chị Phan Thị P.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/5/2017; cháu Nguyễn Na N, sinh ngày 30/01/2019 và Nguyễn Khánh A, sinh ngày 15/10/2021. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu H, cháu N. Đối với cháu A đang còn nhỏ hiện nay ở với chị P đề nghị giao cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Anh L không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại đơn trình bày bị đơn chị Phan Thị P có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn chị nhất trí như anh L trình bày. Sau ngày kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì xẩy ra mâu thuân. Nguyên nhân do tính cách không phù hợp, anh L cũng có đánh đập, xúc phạm chị nhiều lần. Bản thân chị không muốn con cái bị thiệt thòi về mặt tình cảm, do đó chị mong muốn vợ chồng có thêm thời gian suy nghĩ. Trường hợp anh L cương quyết xin ly hôn thì chị cũng nhất trí theo yêu cầu của anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/5/2017; cháu Nguyễn Na N, sinh ngày 30/01/2019 và Nguyễn Khánh A, sinh ngày 15/10/2021. Hiện tại anh L đang chăm sóc cháu H, cháu N còn cháu A đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị giao con theo hiện trạng như trên để thuận tiện việc chăm sóc cũng như san sẻ gánh nặng về mặt kinh tế cho cả hai vợ chồng.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân & Gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chị P có hộ khẩu thường trú tại xã Tân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An được quy định tại điểm a khoản1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành. Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn chị Phan Thị P vắng mặt lần thứ 2, do đó căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn.

2. Về nội dung:

Về hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ cho thấy hôn nhân giữa anh L, chị P là hôn nhân hợp pháp, tuân thủ theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu xin ly hôn nguyên đơn cho rằng do tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm, hai bên không có sự tôn trọng và thương yêu nhau. Việc này bị đơn cũng đã thừa nhận, mặt khác qua xem xét tình trạng hôn nhân nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nguyên đơn đã trình bày. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh L, chị P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luận Hôn nhân & Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh L.

Đối với việc nuôi con: Qúa trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều có nguyện vọng giao con chung theo hiện trạng cụ thể: Giao con chung Nguyễn Gia Hvà Nguyễn Na N cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng; giao con chung Nguyễn Khánh An cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy cháu A hiện nay còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cần nhiều sự chăm sóc từ mẹ; đối với cháu H, cháu N đang sinh hoạt, học tập ổn định cùng với anh L. Vì vậy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung cần áp dụng Điều 81 của luật Hôn nhân và gia đình giao con chung theo hiện trạng như trên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự chưa yêu cầu.

Về tài sản: Anh L, chị P không yêu cầu nên miễn xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28; khoản 1 điều 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, 56; 81; 82; 83; 84 của luật Hôn Nhân và Gia đình;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L.

- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn chị Phan Thị P.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia H, sinh ngày 28/5/2017 và Nguyễn Na N, sinh ngày 30/01/2019 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao con chung Nguyễn Khánh A, sinh ngày 15/10/2021 cho chị Phan Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự chưa yêu cầu.

Anh Nguyễn Văn L, chị Phan Thị P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Án phí: Căn cứ vào khoản 4, điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điều 27 Nghị quyết 326 /2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Buộc anh L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Án phí của anh L được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012428 ngày 11/10/2022. Anh L đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ