- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị Ch được ly hôn với anh Thạch Ph.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-6-2023 “Về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Sô Tha.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Hữu Thanh
2. Bà Ngô Thị Oanh Kiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Đoàn Tố Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 149/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Kim Thị Ch, sinh ngày 15/5/1987, có mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Bị đơn: Anh Thạch Ph, sinh ngày 04/5/1990, có mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm 5, thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Kim Thị Ch trình bày: Do có quen biết trước và qua thời gian tìm hiểu nên chị và anh Thạch Ph có tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với nhau, trước sự đồng ý và cho phép của hai bên gia đình anh, chị có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh ngày 10/8/2017. Sau ngày cưới vợ chồng về sống riêng bên cha mẹ ruột chị Ch ở ấp T, xã H, huyện Trà Cú, vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc đến nhau. Đến tháng 8 năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Ph không tôn trọng chị, không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên cờ bạc, kiếm chuyện chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm và đánh đập chị rất nhiều lần. Chị bỏ trốn lên Sài Gòn tìm việc làm nhưng anh cũng không tha tìm đến nơi để kiếm chuyện đánh đập đến nỗi chủ nhà trọ đuổi không cho thuê. Năm 2021 chị có làm đơn xin ly hôn 02 lần nhưng anh Ph năn nỉ và cam kết trước Tòa sẽ thay đổi tính tình và từ bỏ cờ bạc nhưng sau khi chị rút đơn thì anh vẫn chứng nào tật nấy vẫn không thay đổi.
Nay chị nhận thấy anh Ph là người chồng vũ phu, cuộc sống hôn nhân của chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Ph.
Về con chung: Tên Thạch Thị Kim D, sinh ngày 06/01/2018 và Thạch Thị Kim N, sinh ngày 06/01/2018, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con mỗi người con một tháng 1.000.000 đồng đến khi hai con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh số tiền 30.000.000 đồng, chị Châu yêu cầu mỗi người có trách nhiệm trả ½ số nợ trên.
- Tại biên bản ghi lời khai ngày 30/5/2023 và quá trình giải quyết vụ án anh Thạch Ph trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Ch về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng. Tuy nhiên, về mâu thuẫn gia đình là có nhưng không lớn, chỉ có cự cải với nhau, còn việc chị Ch cho rằng anh chỉ thích ăn chơi, cờ bạc, không quan tâm chăm sóc vợ con và có 01 lần xô xác làm chị Ch té ngã bị gãy ngón tay là đúng nhưng của 04 năm về trước, còn hiện anh đã đi làm thuê ở bãi thép Hòa Phát, xã Tân Túc, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh không còn bạo lực cũng như tham gia các tệ nạn xã hội, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cho đến khi khôn lớn.
Về con chung: Tên Thạch Thị Kim D, sinh ngày 06/01/2018 và Thạch Thị Kim N, sinh ngày 06/01/2018, hiện tại do chị Ch nuôi dưỡng nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu chị Ch cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh số tiền 30.000.000 đồng, anh đồng ý cùng chị Ch mỗi người trả ½ số nợ trên.
Tại phiên tòa hôm nay và quá trình giải quyết vụ án chị C xin rút một phần yêu cầu về phần cấp dưỡng nuôi con là không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con; về nợ chung nợ Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh số tiền 30.000.000 đồng, chị Ch lãnh trách nhiệm trả không yêu cầu anh Ph cùng trả.
- Tại đơn xin từ chối tham gia tố tụng ngày 06 tháng 6 năm 2023 Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh trình bày: Ngày 11/7/2020 chị Kim Thị Ch có vay vốn tại Ngân hàng số tiền 30.000.000 đồng. Do chị Kim Thị Ch đã nhận nợ và chịu trách nhiệm trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng không khởi kiện chị Ch trong vụ kiện này. Trong trường hợp chị Ch không thực hiện đúng cam kết thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát huyện Trà Cú tham gia phiên tòa:
Qua nghiên cứu đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng.
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan trong quá trình thụ lý và chuẩn bị xét xử. Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo qui định tại các Điều 70, 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 147, Điều 244 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Chị Kim Thị Ch được ly hôn với anh Thạch Ph.
- Về con chung: Giao con chung tên Thạch Thị Kim D, sinh ngày 06/01/2018 và Thạch Thị Kim N, sinh ngày 06/01/2018 cho chị Ch tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị Ch về việc không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có không yêu cầu nên không giải quyết
- Về nợ chung: Nợ Ngân hàng Chính sách xã hội, Chi nhánh tỉnh Trà Vinh – Phòng giao dịch huyện Trà Cú số tiền 30.000.000đ, ghi nhận sự tự nguyện của chị Kim Thị Ch về việc đồng ý lãnh trách nhiệm trả cho Ngân hàng, không yêu cầu anh Ph cùng trả.
- Đình chỉ đối với phần rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và nợ chung.
- Về án phí: Miễn tiền án phí cho chị Kim Thị Ch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Do anh Thạch Ph cư trú tại ấp T, xã H, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt nên căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Kim Thị Ch và Thạch Ph xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, căn cứ theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị Ch trình bày vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, do anh Ph không tôn trọng chị, không quan tâm chăm sóc vợ con, anh Ph chỉ thích ăn chơi cờ bạc. Trước yêu cầu ly hôn của chị Ch thì anh Ph không đồng ý vì cho rằng còn tình cảm với chị Ch và vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, bản thân anh còn thương vợ, con rất nhiều, anh Ph tha thiết mong vợ chồng về đoàn tụ. Tòa án đã giành nhiều thời gian để anh Ph thuyết phục chị Ch về chung sống đồng thời tiến hành hòa giải cho vợ chồng anh, chị đoàn tụ, anh Ph đã hứa sẽ tu chí làm ăn, không cờ bạc và mong chị Ch tha thứ. Nhưng chị Ch không còn tin tưởng anh Ph, chị Ch đã hai lần làm đơn yêu cầu ly hôn với anh Ph gởi cho Tòa án, khi được anh Ph năn nỉ và cam kết trước Tòa hứa sẽ thay đổi nhưng anh không thực hiện được. Chị Ch không đồng ý về chung sống cùng anh Ph và giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Ph. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị Ch và anh Ph đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Ch được ly hôn anh Ph là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Kim Thị Ch và anh Thạch Phcó 02 con chung là Thạch Thị Kim D, sinh ngày 06/01/2018 và Thạch Thị Kim N, sinh ngày 06/01/2018. Chị Ch và anh Ph đều có nguyện vọng được nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của các con chưa thành niên. Xét thấy, anh Ph thường xuyên đi làm ăn xa, không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Trong thời gian trước đây và hiện nay cả 02 con đều do chị Ch nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Ch là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị Ch không yêu cầu anh Ph thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Kim Thị Ch và anh Thạch Ph xác định không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Do Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh không khởi kiện chị Ch trong vụ kiện này.Trong trường hợp chị Ch không thực hiện đúng cam kết thì Ngân hàng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát trong việc giải quyết vụ án là có căn cứ được chấp nhận.
Về án phí: Chị Kim Thị Ch thuộc diện được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Kim Thị Ch được ly hôn với anh Thạch Ph.
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Thạch Thị Kim D, sinh ngày 06/01/2018 và Thạch Thị Kim N, sinh ngày 06/01/2018 cho chị Kim Thị Ch được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Kim Thị Ch không yêu cầu anh Thạch Ph cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung: Không tranh chấp nên không xem xét, giải quyết
4. Về nợ chung: Do Ngân hàng Chính sách xã hội- Phòng giao dịch huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Kim Thị Ch được miễn nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Đương sự, - VKSND huyện Trà Cú, - TAND tỉnh Trà Vinh, - CCTHADS huyện Trà Cú, - UBND xã H, -Lưu hồ sơ vụ án THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lƣơng Hữu Thanh – Ngô Thị Oanh Kiều | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Sơn Thị Sô Tha THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Sô Tha |