vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TH O
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/05/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Thắng; Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Ngọc;

Bà Nguyễn Thị Minh Huyền; Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th O: Không tham gia phiên tòa theo công văn số 12/TB-VKS ngày 26 tháng 04 năm 2023. Ngày 10 tháng 05 năm 2023 Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXX –ST ngày 21 tháng 04 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐHPT – ST ngày 05/5/2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1994. Trú tại: số nhà 9, ngõ 210B Võ Chí Công, phường X, quận M, Thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa có mặt. Bị đơn: Anh Đào Văn L, sinh năm 1992. Trú tại: Số 7, xóm Ngõ Cau, Đội 4, Thôn Quang Trung, xã T, huyện Th O, Thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn và tại bản tự khai, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày: Về tình cảm vợ chồng: Tôi và anh Đào Văn L sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyên đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Th O, Thành phố Hà Nội vào năm 2014. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào khủng hoảng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa. Vợ chồng đã ly thân được 6 tháng. Nay tôi nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn với anh Đào Văn L. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Như N, sinh ngày 22/02/2015 và cháu Đào Thanh T, sinh ngày 02/9/2016. Sau khi vợ chồng ly hôn tôi có nguyện vọng xin được nuôi hai con chung. Về đóng góp nuôi con chung: Chị H yêu cầu đóng góp nuôi con chung cho một con là 3.000.000 đồng/tháng. Còn chị H có trách nhiệm lo cho một con còn lại. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H trình bày không có. Về án phí: Chị H tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm. Bị đơn: Anh Đào Văn L không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu kiện xin ly hôn của chị Lê Thị H. Tại phiên tòa: Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Anh Đào Văn L có quan điểm: Về tình cảm, anh L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nhất trí ly hôn với chị H. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Như N, sinh ngày 22/02/2015 và cháu Đào Thanh T, sinh ngày 02/9/2016. Sau khi vợ chồng ly hôn anh L có nguyện vọng xin được nuôi cháu Đào Thanh T. Còn cháu Đào Như N thì chị H nuôi. Không bên nào phải đóng góp nuôi con chung. Về tài sản chung: Không có; Công nợ chung: Không có. Về việc anh L có yêu cầu được nuôi cháu Đào Thanh T. Còn cháu Đào Như N thì chị H nuôi. Chị H nhất trí với yêu cầu này của anh L. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Th O, Thành phố Hà Nội giải quyết việc Ly hôn với anh Đào Văn L. Theo quy định tại khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Th O. [2] Về nội dung: Chị H và anh Đào Văn L sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Th O, Thành phố Hà Nội vào ngày 08 tháng 9 năm 2014. Việc kết hôn giữa hai anh chị hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn khiến cuộc sống hôn nhân rơi vào khủng hoảng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa. Nay cả chị H và anh L đều nhất trí ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài do mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh L. [3] Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Như N, sinh ngày 22/02/2015 và cháu Đào Thanh T, sinh ngày 02/9/2016. Giao cháu Đào Như N, sinh ngày 22/02/2015 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng; Giao cháu Đào Thanh T, sinh ngày 02/9/2016 cho anh Đào Văn L nuôi dưỡng. Không bên nào phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung. Chị H và anh L có quyền đi lại, thăm hỏi con chung. Không ai có quyền ngăn cản. [4] Về tài sản chung: không có; Công nợ chung: Không có. [5] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều: 51; 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 28, khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Toà án. Xử: Cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Đào Văn L. Về con chung: Giao cháu Đào Như N, sinh ngày 22/02/2015 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng. Giao cháu Đào Thanh T, sinh ngày 02/9/2016 cho anh Đào Văn L nuôi dưỡng. Không bên nào phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung. Chị H và anh L có quyền đi lại, thăm hỏi con chung. Không ai có quyền ngăn cản. Về tài sản chung: Không có; công nợ chung: không có. Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0054091 ngày 20/03/2023 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Th O, Thành phố Hà Nội. Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn có mặt. Có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 10/05/2023.

Cỡ chữ