vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lư Thị L, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lư Thị L được ly hôn với anh Huỳnh Văn T. Về con chung: Chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T có hai con chung tên Huỳnh Thị Thùy Q, sinh ngày: 05/7/1992 và Huỳnh Nhật L, sinh ngày: 15/12/1996. Hiện các con đã thành niên, chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T không yêu cầu giải quyết nê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn với anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lư Thị L, cụ thể:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-02-2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mai Thị Nhặc.

2. Ông Nguyễn Văn Hết.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

Ngày 20 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lư Thị L, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: Ấp TĐ, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Ấp TĐ, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lư Thị L trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn T quen biết qua mai mối, qua thời gian tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức lễ cưới vào năm 1990, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/12/2002. Sau khi thành hôn, anh T về sống cùng với gia đình chị, sau đó anh chị xây dựng nhà và ra ở riêng tại ấp TĐ, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Từ năm 2002, anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về cuộc sống, anh T ghen tuông vô cớ, thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện chửi mắng, đập phá đồ đạc trong nhà và đánh đập chị, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nhưng vì thương con, muốn các con có được tình thương của cha và mẹ nên chị chịu đựng tiếp tục sống với anh T. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ tháng 10/2022 cho đến nay chị và anh T sống ly thân. Trong thời gian ly thân, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai, anh chị không gặp nhau nhằm mục đích hàn gắn đoàn tụ. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung tên Huỳnh Thị Thùy Q, sinh ngày: 05/7/1992 và Huỳnh Nhật L, sinh ngày: 15/12/1996. Hiện tại, các con đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là anh Huỳnh Văn T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, anh T cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh về những nội dung có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị L.

ư]

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Lư Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn giữa chị với anh Huỳnh Văn T có nơi cư trú tại ấp Tân Điều, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Lư Thị L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Huỳnh Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt đối với chị Lư Thị L, anh Huỳnh Văn T theo quy định tại các điều 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thành thới B, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/12/2002 nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T được xem là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị L cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh T không hạnh phúc do anh chị có sự khác biệt về quan điểm sống, anh T ghen tuông vô cớ, thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện chửi mắng và đánh đập chị. Mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng trầm trọng nên từ tháng 10/2022 đến nay, chị L và anh T sống ly thân, không ai quan tâm gì đến ai, anh chị không thể hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình Tòa án giải quyết, anh T không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về hôn nhân giữa anh và chị L, cũng như anh T không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm mục đích hàn gắn đoàn tụ. Từ đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ để tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị L và anh T có hai con chung tên Huỳnh Thị Thùy Q, sinh ngày: 05/7/1992 và Huỳnh Nhật L, sinh ngày: 15/12/1996, hiện các con đã thành niên và có khả năng tự lao động. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Anh T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như không có văn bản gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của anh T về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L trình bày tự thỏa thuận và không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của anh T về việc yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lư Thị L, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lư Thị L được ly hôn với anh Huỳnh Văn T.

2. Về con chung: Chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T có hai con chung tên Huỳnh Thị Thùy Q, sinh ngày: 05/7/1992 và Huỳnh Nhật L, sinh ngày: 15/12/1996. Hiện các con đã thành niên, chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T không tranh chấp tài sản chung nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Lư Thị L và anh Huỳnh Văn T không có nợ chung nên không xem xét.

5. Về án phí: Chị Lư Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001043 ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre. Chị Lư Thị L đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ