- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn Q- Thái Hoài Th"
- Tòa quyết gì? Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Ngọc Q và chị Thái Hoài Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST Ngày: 01 - 8 - 2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thuận Sơn và ông Võ Văn Chí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Anh Lê Ngọc Q, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Th, xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt. 2. Bị đơn: Chị Thái Hoài Th, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn Th, xã Ph huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Lê Ngọc Q trong đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2023; bản tự khai ngày 24/3/2023; biên bản hòa giải các ngày 24/3/2023, ngày 24/4/2023 và tại phiên tòa trình bày:
Anh Lê Ngọc Q và chị Thái Hoài Th kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An vào ngày 30/10/2018. Sau kết hôn vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh Q thuộc xã Ph, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc được hai năm thì đến tháng 01 năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do lời ăn tiếng nói và trong cách sống. Đến tháng 3 năm 2023 anh Q phát hiện chị Th có người khác từ đó vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh Q xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu được ly hôn chị Th.
Về con chung: Vợ, chồng có một con chung là cháu Lê Ngọc Minh Q, sinh ngày 09/10/2020, hiện nay con chung đang ở với anh Quyết, nếu ly hôn anh Q có nguyện vọng xin được nuôi con chung, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Thái Hoài Th tại bản khai ngày 05/4/2023; biên bản hòa giải ngày 18/4/2023 và tại phiên tòa trình bày: Việc kết hôn, chung sống của vợ chồng, chị Th cơ bản nhất trí như trình bày của anh Q. Về mâu thuẫn, chị Th cho rằng cuộc sống vợ chồng cũng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi nhau, bất đồng trong quan điểm sống; chị Th không đồng ý việc anh Q cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do chị Th ngoại tình.Theo trình bày của chị Th thì vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay, chị Thương xác định tình cảm vợ chồng cũng đã hết nên anh Q xin ly hôn, chị Th cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị Th thừa nhận vợ chồng có một con chung là cháu Lê Ngọc Minh Q, sinh ngày 09/10/2020, hiện nay con đang ở với anh Q, nếu ly hôn chị Th cũng có nguyện vọng xin được nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con, vì chị có đủ khả năng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Yêu cầu khởi kiện của anh Lê Ngọc Q xin ly hôn chị Thái Hoài Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì anh Q và chị Th kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã dân xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An vào ngày 30/10/2018 , nên hôn nhân giữa anh Q và chị Th là hợp pháp.
Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn anh Q trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thì cuộc sống vợ chồng chung sống với nhau được 02 năm đến tháng 01 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung nên xảy ra cãi vã xô xát, chị Th có người khác nên vợ chồng sứt mẻ tình cảm. Quá trình hòa giải chị Th cũng xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nhưng không đồng ý lý do anh Q nêu ra là do chị ngoại tình.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo thừa nhận của các bên thì, mâu thuẫn vợ, chồng giữa anh Q và chị Th là đúng thực tế, đã xảy ra trong thời dài dài, không thể hàn gắn được, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung và ngày càng trầm trọng, vợ chồng không quan tâm đến nhau, đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, cả hai bên đều đồng ý thuận tình ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q và ý kiến đồng ý ly hôn của chị Th tại phiên tòa để xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Q và chị Th tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Q và chị Th đều thừa nhận vợ, chồng có một con chung là cháu Lê Ngọc Minh Q, sinh ngày 09/10/2020, hiện tại con chung đang sống với anh Q. Anh Q và chị Th đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu bên không nuôi con cấp dưỡng. Tại phiên tòa chị Th trình bày hiện tại con chung chưa đủ 36 tháng tuổi nên chị được quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với con chung Lê Ngọc Minh Q, sinh ngày 09/10/2020, đến tại thời điểm xét xử hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Tại phiên tòa chị Th chứng minh được thu nhập của bản thân và các điều kiện khác đủ khả năng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không buộc anh Q cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với yêu cầu của đương sự và đúng với quy định của pháp luật; sau này nếu điều kiện thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Ngọc Q và chị Thái Hoài Th.
2. Nuôi con chung: Giao con chung Lê Ngọc Minh Q, sinh ngày 09/10/2020 cho chị Thái Hoài Th được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Lê Ngọc Q không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Ngọc Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Sau này, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung, nợ chung: Vợ, chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Án phí: Nguyên đơn anh Lê Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai số 0004579 ngày 10/02/2023.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/8/2023), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Lệ Thủy; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS huyện Lệ Thủy; - UBND xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An (để ghi vào sổ Hộ tịch, ĐKKH ngày 30/10/2018); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Hải THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |