vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hện hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị P.

Về con chung: Không có Về tài sản chung, công sức, công nợ: không giải quyết trong vụ án này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHẠM VĂN D XIN LY HÔN NGUYỄN THỊ P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hện hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31 -5- 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng, ông Nguyễn Văn Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 06/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1979, nơi ĐKNKTT: Thôn D, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

3. Người làm chứng: Bà Lưu Thị Đ, sinh năm1958, nơi cư trú: Thôn Y, xã M, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn D trình bầy: Ông và bà Nguyễn Thị P đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 22/12/2018 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam.

Sau ngày cưới vợ chồng ông chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, không tìm được tiếng nói chung nên dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2020 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông được ly hôn.

Về con chung: vợ chồng ông không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công sức, công nợ: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng bà P không đến làm việc theo giấy báo, cũng không gửi ý kiến về các nội dung khởi kiện của ông D.

Bà Lưu Thị Đ là mẹ đẻ của bà Nguyễn Thị P trình bày: Sau khi kết hôn thì bà P, ông D phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà P về nhà bà tại thôn Yên Bình, xã Mộc Bắc ở từ thời điểm tháng 3 năm 2019 đến nay. Ông D, bà P không quan tâm đến nhau. Vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, công sức, công nợ. Sau khi bà nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án như thông báo thụ lý, giấy triệu tập thì bà đều gọi điện thông báo cho bà P. Bà P đã nắm được toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D nhưng do đang bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc.

Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã M, thị xã D thể hiện: Trong quá trình chung sống giữa bà P, ông D phát sinh nhiều mâu thuẫn, từ tháng 3 năm 2019 bà P đã bỏ về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Ông D và bà P không có con chung, về tài sản chung, công sức, công nợ địa P không nắm rõ, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28,35,39,147, 227, 228 BLTTDS; Điều 51, 56 Luật HN&GĐ; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Xử ly hôn giữa ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị P. Về con chung, về tài sản chung, công nợ, công sức: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về án phí HNGĐ: Ông D phải chịu theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Ông Phạm Văn D khởi kiện xin ly hôn bà Nguyễn Thị P có nơi cư trú tại xã M, thị xã Duy Tiên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Phạm Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt, bà Đỗ Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Ông D và bà P tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/12/2018 tại UBND xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Khoảng tháng 3 năm 2019 ông, bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, mỗi người đã lựa chọn cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Bà P biết việc ông D xin ly hôn nhưng bỏ mặc, chứng tỏ bà không còn tình cảm, không quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Như vậy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông D, quan điểm của Kiểm sát viên, xử cho ông được ly hôn bà P.

Về quan hệ con chung: Ông D, bà P không có con chung nên không đặt ra xem xét.

Về quan hệ tài sản chung, công sức, công nợ: Ông D khai không có, Tòa án không ghi được ý kiến của bà P nhưng ghi được ý kiến của bà Đố mẹ đẻ bà P xác nhận không có nên không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Phạm Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Áp dụng các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Về quan hện hôn nhân: Xử ly hôn giữa ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị P.

2.Về con chung: Không có

3. Về tài sản chung, công sức, công nợ: không giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Phạm Văn D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Đối trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001929 ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ