- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con giữa Nguyễn Thị Thơm và Phạm Văn Hiển"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Xác định anh Phạm Văn H, sinh ngày 08/10/1990; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của cháu Phạm Khả D (tên dự kiến đặt cho con), sinh ngày 29/01/2022.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 24/7/2023 “Xác Đ cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- T2 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
ông Phạm Vũ Ngọc Châu;
Các hội thẩm nhân dân:
ông Hoàng Đoán;
ông Trần Xuân Tạo.
- Thư ký phiên tòa: ông Võ Đức Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thuỳ Tràng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, về việc “Xác Đ cha cho con”, theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2023 và Quyết Đ hoãn phiên toà số 06/2023/QĐ-ST ngày 10/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989;
Trú tại: thôn H, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Bị đơn: anh Phạm Văn H, sinh năm 1990;
Trú tại: thôn H, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Lê Văn Đ, sinh năm 1988; nơi ĐKNKTT: thôn S, xã B, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Hiện trú tại: Tổ 33, phường T, quận C, T2 phố Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 3 năm 2023 nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn Đ là vợ chồng nhưng do mâu thuẫn về tình cảm nên đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân giữa chị T và anh Phạm Văn H đã phát sinh tình cảm, kết quả chị T và anh H có con chung là cháu Phạm Khả Di (tên dự kiến đặt cho con) sinh ngày 29/01/2022. Do đang trong thời ký hôn nhân với anh Lê Văn Đ, chị T lại có con chung với anh H nên vợ chồng chị T đã thống nhất đề nghị Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Hà Tỉnh giải quyết ly hôn theo Quyết Đ số 49/2022/QĐCNHGT ngày 24/8/2022. Khi giải quyết ly hôn không đưa cháu Phạm Khả Di vào để giải quyết con chung.
Để bảo đảm quyền cho con nên chị Nguyễn Thị T đã làm thủ tục xét nghiệm AND của anh Phạm Văn H và cháu Phạm Khả Di. Kết quả xét nghiệm AND số 23294PG/DNA ngày 16/3/2023 của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ GENPLUS kết luận anh Phạm Văn H và cháu Phạm Khả Di có quan hệ huyết thống bố - con. Vì vậy, chị T làm đơn này đề nghị Toà án nhân dân huyện Gio Linh giải quyết xác Đ anh Phạm Văn H là bố của cháu Phạm Khả Di để con được làm thủ tục khai sinh và được hưởng các quyền theo quy Đ của pháp luật.
- Tại Bản tự khai ngày 12/4/2023, anh Phạm Văn H trình bày: chị Nguyễn Thị T là vợ của anh Lê Văn Đ, trong thời gian vợ chồng chị T xãy ra mâu thuẫn sống ly thân, chị T và anh Phạm Văn H nảy sinh tình cảm và kết quả có một con chung là cháu Phạm Khả D (tên dự kiến đặt cho con) sinh ngày 29/01/2022. Để bảo đảm quyền cho con nên anh H đã làm thủ tục xét nghiệm ADN của anh Phạm Văn H và cháu Phạm Khả D. Kết quả xét nghiệm ADN số 23294PG/DNA ngày 16/3/2023 của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ GENPLUS kết luận anh Phạm Văn H và cháu Phạm Khả D có quan hệ huyết thống bố - con. Nay chị T khởi kiện yêu cầu xác Đ anh H là bố của cháu Phạm Khả D, anh H thừa nhận cháu Phạm Khả D là con của mình.
- Tại Bản trình bày ý kiến ngày 19/5/2023 anh Lê Văn Đ trình bày: nguyên trước đây anh Lê Văn Đ và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng, chúng tôi có 03 con chung là cháu Lê Thị Khánh B, Lê Nguyễn Hải Đ2 và Lê Nguyễn Công T2; quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng sống ly thân. Trong thời gian chúng tôi sống ly thân (không ở chung với nhau) nhưng chị T đã có con với người khác. Vì vậy, chúng tôi đã thoả thuận ly hôn theo quyết định số 49/2022/QĐCNHGT ngày 24/8/2022 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Khi giải quyết ly hôn chúng tôi không đưa cháu Phạm Khả D vào để giải quyết vì đó là con riêng của chị T với người khác.
Vì vậy, tôi khẳng định cháu Phạm Khả D không phải là con của tôi. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh trình bày ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các bước đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và 72 của BLTTDS; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 88, 89, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu câu của khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xác định anh Phạm Văn H sinh ngày 08/10/1990; trú tại: thôn H, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của cháu Phạm Khả D (tên dự kiến đặt cho con), sinh ngày 29/01/2022.
Về án phí: ghi nhận sự thuận chịu án phí dân sự sơ thẩm của chị Nguyễn Thị T.
NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác Đ quan hệ tranh chấp: chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định anh Phạm Văn H, sinh năm 1990; trú tại: thôn H, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị là cha của cháu Phạm Khả D (tên dự kiến đặt cho con), sinh ngày 29/01/2022, nên Toà án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn anh Phạm Văn H, cư trú tại xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gio Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi Toà án thụ lý vụ án ngày 12/4/2023 anh Phạm văn H có bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án, đến ngày 17/4/2023 anh Phạm Văn H đi xuất khẩu tại Đài Loan. Như vậy anh H đi xuất khẩu lao động sau khi Toà án thụ lý vụ án nên vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Gio Linh.
[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà cho anh Phạm Văn H thông qua người thân của anh H nhưng anh H đều vắng mặt; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia phiên tòa xét xử vụ án ngày 10/7/2023 cũng như tại phiên tòa hôm nay; chị Nguyễn Thị T và anh Lê Văn Đ vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt cả nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung vụ án:
Theo lời trình bày của chị Nguyễn Thị T, anh Phạm Văn H và anh Lê Văn Đ thì trong thời kỳ hôn nhân của chị T và anh Đ, chị T đã phát sinh tình cảm với anh Phạm Văn H, đã đi quá giới hạn dẫn đến chị T và anh H có con chung là cháu Phạm Khả D (tên dự kiến đặt cho con), sinh ngày 29/01/2022. Anh Phạm Văn H thừa nhận cháu Di là con của mình. Anh Lê Văn Đ, khẳng định cháu Di không phải là con của anh Đ, vì cháu D được sinh ra trong thời kỳ vợ chồng anh Đ, chị T sống ly thân. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 49/2022/QĐCNHGT ngày 24/8/2022 của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, khi giải quyết ly hôn xác định anh Đ và chị T có 03 con chung, không đưa cháu Phạm Khả D vào để giải quyết vì đó là con riêng của chị T với người khác.
Theo kết quả xét nghiệm ADN số 23294PG/DNA ngày 16/3/2023 của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ GENPLUS kết luận anh Phạm Văn H và cháu Phạm Khả D có quan hệ huyết thống bố - con.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định anh Phạm Văn H là bố đẻ của cháu Phạm Kha D, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
[3] Về án phí: yêu cầu khởi kiện của chị T được chấp nhận nên bị đơn anh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị Nguyễn Thị T sô tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị T cho rằng vì điều kiện kinh tế gia đình nên anh Phạm Văn H (chồng hiện tại của chị T) đã đi xuất khẩu lao động nên chị T đồng ý nộp án phí sơ thẩm cho anh H và đề nghị đối trừ số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự; Điều 88, 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Xác định anh Phạm Văn H, sinh ngày 08/10/1990; địa chỉ: thôn H, xã G, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị là cha đẻ của cháu Phạm Khả D (tên dự kiến đặt cho con), sinh ngày 29/01/2022.
2. Về án phí: anh Phạm Văn H có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc xác định Đ cha cho con. Chị Nguyễn Thị T thuận chịu nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh H, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số CC/2022/0000180 ngày 11/4/2023 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Anh Phạm Văn H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Gio Linh; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Châu |