- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "vụ án dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, tỉnh Phú Yên: Buộc bị đơn ông Nguyễn Bá S, bà Trần Thị Kim Ocó trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, tỉnh Phú Yên 83.
- Căn cứ chính? Điều 103 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/DSST Ngày 26-10-2023 V/v Tranh chấp HĐ tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Đông Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Hồng Thái; 2.Ông Niê Y Ling. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Kim Vinh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên - Kiểm sát viên Ngày 26 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST- DS ngày 28 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng AViệt Nam do ông Trần Văn Thanh M - Phó giám đốc phòng giao dịch ngân hàng Ahuyện S, chi nhánh tỉnh Phú Yên làm đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 7 năm 2022. Địa chỉ liên hệ: Số Đ, khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Đồng bị đơn: - Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1985;
- Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1986;
Đều trú tại: Khu phố X, thị trấn H, S, Phú Yên. Đều vắng mặttại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng AViệt Nam trình bày:
Ngày 14/6/2016 Ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, tỉnh Phú Yên cho hộ ông Nguyễn Bá S bà Trần Thị Kim O vay mã 6600000707686590 nguồn vốn hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn 50.000.000 đồng, thời hạn trả nợ 11/11/2020 lãi suất 0,75%/tháng, lãi quá hạn 0,975%/tháng (vay không có tài sản bảo đảm), mục đích vay là chăn nuôi bò.
Đến ngày 14/3/2017, hộ ông Sbà Otrả được tổng cộng là 3.372.452 đồng tiền lãi và không trả nữa nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn vào ngày 12/11/2020. Đến nay, hộ ông Sbà Ođã ly hôn nhưng không trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng, vì vậy Ngân hàng AViệt Nam yêu cầu Tòa án tuyên buộc ông Nguyễn Bá S bà Trần Thị Kim Ophải trả toàn bộ số nợ tính đến ngày 26/10/2023 là 83.876.088 đồng (trong đó 50.000.000 đồng tiền gốc, 33.876.088 đồng tiền lãi) và tiền lãi phát sinh từ ngày 27/10/2023 đến ngày trả hết nợ theo hợp đồng tín dụng và quy định về lãi suất của chính phủ.
Bị đơn là bà Trần Thị Kim Otrình bày: Ông Svà bà Ođã ly hôn năm 2020, khi còn chung sống trong thời kỳ hôn nhân, ông Scó vay Ngân hàng Ahuyện S và còn nợ như ngân hàng trình bày. Việc ông Svay bà Okhông ký giấy vay, chữ ký và chữ viết họ tên bà trong hồ sơ vay vốn là do ông Stự ký. Nay ngân hàng khởi kiện, bà Okhông đồng ý trả nợ và cho rằng đó là nghĩa vụ riêng của ông Sang.
Đồng bị đơn ông Nguyễn Bá S vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm; xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng tư cách tham gia tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn Trần Thị Kim Ođã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn Nguyễn Bá S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Slà đúng quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 103, 280, 466, 468 BLDS 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng AViệt Nam: Buộc ông Nguyễn Bá S bà Trần Thị Kim Ophải có trách nhiệm liên đới trả cho ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, Phú Yên số tiền 83.876.088 đồng (trong đó 50.000.000 đồng tiền gốc, 33.876.088 đồng tiền lãi tính đến ngày 26/10/2023) và lãi phát sinh kể từ ngày 27/10/2023 cho đến khi trả hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua kiểm tra các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, tỉnh Phú Yên có đơn khởi kiện ông Nguyễn Bá S bà Trần Thị Kim Otrú tại khu phố 1, thị trấn Hai Riêng, S, Phú Yên. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Phú Yên đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng AViệt Nam đối với ông Nguyễn Bá S bà Trần Thị Kim Othì đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Luật các tổ chức tín dụng.
[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Bá S, bà Trần Thị Kim Ođã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Sbà Oanh.
[4] Về nội dung tranh chấp: Bà Trần Thị Kim Oxác nhận khi còn chung sống có vay nợ của Ngân hàng Ahuyện S số tiền gốc và lãi như đại diện ngân hàng trình bày và cho đó là nợ riêng của ông S, ông Sphải có trách nhiệm trả nợ.
Ông Scố tình vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng, được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên cần chấp nhận lời trình bày và các chứng cứ tài liệu của nguyên đơn, việc xác nhận của bà Ovề việc khi còn chung sống có vay 50.000.000 đồng tiền gốc đến nay chưa trả. Vì vậy Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bên vay nợ trả 83.876.000 đồng (trong đó 50.000.000 đồng tiền gốc, 33.876.000 đồng tiền lãi (đã làm tròn số) và lãi phát sinh theo quy định tại các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 357, 466 và Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 là có cơ sở chấp nhận. Cụ thể:
- Tiền nợ gốc là: 50.000.000 đồng
- Lãi vay đến 26/10/2023: 33.876.000 đồng (đã làm tròn số);
Tổng cộng 83.876.000 đồng (đã làm tròn số) và lãi phát sinh theo hợp đồng và quy định điều chỉnh của Chính phủ (nếu có), kể từ ngày 27/10/2023 cho đến khi trả hết nợ.
[5] Về trách nhiệm trả nợ: Bà Trần Thị Kim Ocho rằng bà không ký vào các loại văn bản trong hồ sơ vay vốn mà đều do ông Stự ký và bà không được giữ số tiền vay đó mà bà chỉ nghe ông Snói sau khi vay được tiền, nên ông Sphải có trách nhiệm trả nợ toàn bộ. Tuy nhiên, bà Okhông đưa ra được chứng cứ chứng minh đó không phải là chữ ký chữ viết của mình; bà thừa nhận có biết ông Svay tiền ngân hàng chính sách và tại Phiếu kiểm tra sử dụng vốn vay ngày 01/7/2016 của địa phương, thì hộ ông Sbà Ođã mua bò chăn nuôi và sử dụng đúng mục đích vay vốn. Theo quy định tại Điều 25, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình, xác định đây là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nên ông Svà bà Ophải có trách nhiệm liên đới trả nợ theo yêu cầu của nguyên đơn và đề xuất giải quyết của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S là có cơ sở.
[6] Về án phí: Các bị đơn có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là: 83.876.000 đồng x 5% = 4.197.000 đồng, theo quy định về án phí, lệ phí tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 25, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 103, 280, 286, 357, 466 và Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, tỉnh Phú Yên: Buộc bị đơn ông Nguyễn Bá S, bà Trần Thị Kim Ocó trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng AViệt Nam, phòng giao dịch huyện S, tỉnh Phú Yên 83.876.000 đồng (bao gồm 50.000.000 đồng tiền gốc, 33.876.000 đồng tiền lãi tính đến ngày 26/1/2023) và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/10/2023 cho đến khi trả hết nợ theo hợp đồng.
Về án phí: Ông Nguyễn Bá S bà Trần Thị Kim Ophải chịu 4.197.000 đồng (bốn triệu một trăm chín mươi bảy ngàn đồng) án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đồng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND h.S; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Đông |