- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đinh Dũng S và Quàng Văn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 209.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/DS-ST Ngày 26 ngày 7 năm 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt
Ông Hà Văn Sơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đinh Dũng S, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Bị đơn: Ông Quàng Văn P, sinh năm 1975 và bà Lò Thị T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản N2, xã P2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – ông Đinh Dũng S trình bày:
Từ những năm 2012 đến năm 2015, ông và vợ là Nguyễn Thị N có đầu tư tiền cho một số hộ dân tại xã Phiêng Pằn để lấy tiền mua phân bón, giống, thuốc trừ sâu và một số đồ dùng phục vụ cho sinh hoạt gia đình và sản xuất nông nghiệp. Trong đó có ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T, trú tại Bản N2, xã P2, vay tiền để mua phân giống. Sau nhiều lần lấy tiền, ngày 20/12/2016 hai bên đã tiến hành đối chiếu công nợ xác định tính đến ngày chốt nợ, vợ chồng ông P còn nợ ông bà số tiền là 224.300.000VNĐ. Hai bên đã thống nhất chuyển số tiền còn nợ thành số tiền vay, thể hiện tại giấy vay tiền ngày 20/12/2016. Theo đó, vợ chồng ông P xác nhận sẽ thanh toán đủ số tiền trên cho vợ chồng tôi vào ngày 30/11/2017.
Sau khi chốt nợ, ông P vay thêm 17.090.000VNĐ để mua gạo, mua ngô, vật tư phục vụ nông nghiệp, tổng cộng là 241.390.000VNĐ. Do không có tiền thanh toán, ông P đã thanh toán bằng ngô trị giá 31.916.000VNĐ, còn nợ là 209.474.000VNĐ.
Từ thời điểm đó đến nay, vợ chồng ông P vẫn chưa thanh toán cho gia đình ông S số tiền còn nợ. Mặc dù đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng vợ chồng ông P đều khất nợ, không có động thái thanh toán tiền. Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T. Địa chỉ: Bản N2, xã P2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phải có trách nhiệm thanh toán cho số tiền vay là 209.474.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 20/12/2016 và tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 30/11/2017 theo đến nay theo lãi xuất quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T thanh toán số tiền nợ gốc là 209.474.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 20/12/2016 và không đề nghị tính lãi.
Tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Quàng Văn P trình bày như sau:
Ông P xác nhận ông S và bà N có đầu tư trong bản, trong đó có hộ của ông. Sau khi thống nhất, ông S đã chở phân, giống, gạo cho vợ chồng ông bà, tuy nhiên đều tính giá cao. Ngoài ra, ông có vay 01 lần 7.000.000VNĐ để mua trâu, vay 13.000.000VNĐ để xẻ gỗ. Hàng năm ông bà vẫn tiến hành chốt nợ với ông S và bà N. Tuy nhiên, ông S tính lãi cao. Khi trả bằng ngô, ông S cũng tính giá thấp. Hiện tại, ông không nhớ chính xác số tiền còn nợ. Mọi giấy tờ chốt nợ đều do ông S giữ. Ông có ý định trả nợ bằng nương, nhưng bà N không nhất trí. Vì vậy, đến nay ông chưa thanh toán được. Ông xác nhận còn nợ như ông S khởi kiện nhưng chỉ trả dần, mỗi năm 10 triệu, tính từ năm sau bắt đầu thanh toán.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà là vợ của ông Đinh Dũng S. Toàn bộ sự việc như ông S trình bày, bà N nhất trí với yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T phải thanh toán cho số tiền vay là 209.474.000VNĐ theo giấy vay tiền đề ngày 20/12/2016 và không yêu cầu tính lãi.
Do các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S số tiền nợ gốc là 209.474.000VNĐ.
Về án phí: Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Việm kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S khởi kiện yêu cầu ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T phải thanh toán số tiền vay theo giấy vay tiền mặt ngày 20/12/2016 nên Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đinh Dũng S cho rằng nguồn gốc của số tiền cho vay là tài sản chung của ông S và vợ là Nguyên Thị N. Do đó Tòa án xác định bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong vụ án.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 3 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị hoãn phiên tòa nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đối với yêu cầu buộc bị đơn trả tiền nợ gốc: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp bản gốc giấy vay tiền đề ngày 20/12/2016, giấy vay tiền ngày 01/1/2015 có chữ ký của bên vay ông Quàng Văn P và vợ là Lò Thị T. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông P xác nhận có nhận tiền đầu tư của ông Đinh Dũng S nhưng ông S tính giá các sản phẩm cao hơn giá thị trường, tính lãi cao. Ngoài lời khai của ông P, không còn căn cứ nào chứng minh. Theo giấy vay tiền ngày 20/12/2016, Pía, bà T có trách nhiệm thanh toán đủ cho ông S vào ngày 30/11/2017. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, không có quan điểm phản đối ý kiến khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã nhận được văn bản yêu cầu của Tòa án. Trên giấy vay tiền có chữ ký của bà T, ông P xác nhận số tiền nợ là nợ chung vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án ông P đều thửa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch vay tài sản giữa ông Đinh Dũng S và ông ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T thể hiện tại giấy vay tiền đề ngày 30/12/2016 là có thật, nội dung của giao dịch là hợp pháp, do đó cần được thừa nhận và bảo vệ. Việc bị đơn không thanh toán tiền nợ là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận theo quy định của Bộ luật dân sự.
Theo giấy vay tiền ngày 20/1/2017 thể hiện số tiền còn nợ là 224.300.000VNĐ.Tuy nhiên, sau khi chốt nợ hai bên tiếp tục giao dịch vay và trả, ông S yêu cầu thanh toán số tiền là 209.474.000VNĐ. Mặc dù không có chữ ký xác nhận của bị đơn về số tiền này nhưng bị đơn xác nhận số tiền còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc là 209.474.000VNĐ.
Về yêu cầu tính lãi: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đề nghị thanh toán lãi chậm trả. Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút yêu cầu tính lãi. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn không trái quy định của pháp luật, cần ghi nhận.
Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được Toà án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận nhưng được miễn án phí do là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 209.474.000VNĐ (Hai trăm linh chín triệu bốn trăm bảy mươi tư nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (ông Đinh Dũng S) cho đến khi thi hành án xong, ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ phần yêu cầu của nguyên đơn về tính lãi suất đối với số tiền nợ gốc chậm trả do nguyên đơn rút yêu cầu.
3. Về án phí: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Bị đơn ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 26 tháng 7 năm 2023. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt; ông Hà Văn Sơ năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng Vay tài sản giữa các đương sự: huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. xã P2, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Biểu quyết: 3/3 nhất trí. 2. Việc giải quyết vụ án ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T phải thanh toán cho ông Đinh Dũng S và bà Nguyễn Thị N số tiền nợ gốc là 209.474.000VNĐ. Dũng S) cho đến khi thi hành án xong, ông Quàng Văn P và bà Lò Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. sự sơ thẩm có giá ngạch. Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí. 3. Về quyền kháng cáo: quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Biểu quyết: 3/3 nhất trí. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 45 phút, ngày 26 tháng 7 năm 2023. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nông Văn Thịnh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tại: Phòng nghị án - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 38/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 2 Nguyên đơn: Ông Đinh Dũng S, sinh năm 1960. Địa chỉ: Tiểu khu A, xã C, Bị đơn: Ông Quàng Văn P, sinh năm 1975 và bà Lò Thị T. Địa chỉ: Bản N2, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU 1. Về điều luật áp dụng: Áp dụng các Điều 357, 463, 464, 465, 466 và Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Dũng S. Buộc bị đơn Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (ông Đinh 2. 2. Về án phí: Nguyên đơn ông Đinh Dũng S không phải chịu án phí dân Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |