vanban.org

Bản án 17/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Hồ Kim D. Buộc bà Hồ Kim D phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng các khoản tiền còn nợ tính đến ngày 13/01/2023, cụ thể như sau: Tiền vay vốn là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/DS-ST
Ngày: 13 - 01 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Thanh Phát.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Bửu Khánh.

2. Ông Võ Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng A.

Địa chỉ: Số 169, phố L, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội.

1.1. Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Dương Quyết O. Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng A.

1.2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm: 1980. Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng A huyện R, tỉnh Kiên Giang (văn bản ủy quyền số: 4716/QĐ-NHCS ngày 25/11/2016).

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn R, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

1.3. Người được ủy quyền lại của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1980. Chức vụ: Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng A huyện R, tỉnh Kiên Giang (văn bản ủy quyền số: 20/QĐ-NHCS ngày 04/02/2020, có mặt).

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn R, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Bà Hồ Kim D, sinh năm: 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/10/2021 của nguyên đơn và tại phiên toà ông Nguyễn Thanh H1 là người được ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng A - phòng giao dịch huyện R cho bà Hồ Kim D vay tiền, như sau: Số tiền cho vay tổng cộng là 13.500.000 đồng (ngày 16/6/2011 cho vay 4.500.000 đồng và ngày 27/9/2011 cho vay là 9.000.000 đồng); chương trình cho vay đối với sinh viên; thời hạn vay là 84 tháng (kể từ ngày giải ngân lần đầu là ngày 16/6/2011, trả nợ ngày 15/5/2018), kỳ hạn trả nợ gốc cuối kỳ, trả tiền lãi theo tháng; tiền lãi thoả thuận theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (gọi tắt là hợp đồng) là 06%/ năm, lãi quá hạn là 7,8%/ năm.

Sau đó, Ngân hàng đồng ý gia hạn thời hạn trả nợ cho bà D đến ngày 04/6/2019, khi đến hạn thanh toán nợ bà D không thực hiện nghĩa vụ, Ngân hàng phối hợp với Tổ tiết kiệm và vay vốn, tổ chức chính trị - xã hội nhận uỷ thác và chính quyền địa phương vận động, yêu cầu bà D trả nợ nhiều lần nhưng bà D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, bà D không có thiện chí thanh toán nợ nên Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) yêu cầu Tòa án giải quyết:

Theo đơn khởi kiện yêu cầu bà D phải trả tiền vay vốn còn nợ là 13.500.000 đồng và tiền lãi. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án bà D đã trả cho Ngân hàng tiền vay vốn tổng cộng là 3.000.000 đồng (mỗi lần trả là 1.000.000 đồng), còn nợ là 10.500.000 đồng. Vì vậy, tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu bà D phải có nghĩa vụ trả tiền vay vốn còn nợ là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 12.459.250 đồng, tổng cộng là 22.959.250 đồng. Ngoài ra, yêu cầu bà D phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận, kể từ ngày 14/01/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Bà Hồ Kim D là bị đơn: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Toà án xem xét.

Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án, cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vẫn còn vi phạm về thời hạn xét xử theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị khắc phục.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký và của nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bà D là bị đơn chưa thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và hợp đồng vay đã quá hạn thanh toán nợ, nhưng đến nay bà D vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ là vi phạm về hợp đồng vay tài sản và vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Ngân hàng xác định quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản và cho đến nay bà D vẫn còn nợ Ngân hàng tiền vay vốn là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 12.459.250 đồng, nhưng bà D không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện bà D là hoàn toàn có cơ sở, căn cứ Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà D phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tiền vay vốn còn nợ là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 12.459.250 đồng, tổng cộng là 22.959.250 đồng. Ngoài ra, bà D phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận, kể từ ngày 14/01/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ.

Về án phí: Đề nghị buộc bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu bà D phải trả tiền vay còn nợ, bà D vay với tư cách cá nhân, không có đăng ký kinh doanh, chương trình cho vay đối với sinh viên, đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà D là bị đơn có nơi cư trú tại huyện R, tỉnh Kiên Giang. Căn vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà D. Tuy nhiên, bà D không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải, phiên tòa là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Mặt khác, bà D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà D.

. Về nội dung vụ án:

Theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của bà D ngày 27/5/2011 (gọi tắt là hợp đồng), Ngân hàng A - phòng giao dịch huyện R đã duyệt, giải ngân và cho bà D vay số tiền tổng cộng là 13.500.000 đồng (ngày 16/6/2011 cho vay 4.500.000 đồng, ngày 27/9/2011 cho vay là 9.000.000 đồng). Như vậy, có căn cứ xác định hai bên xác lập hợp đồng vay tài sản với nhau là sự thật và việc ký kết hợp đồng vay tài sản của hai bên hoàn toàn tự nguyện, phù hợp theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, các bên phải thực hiện đúng về quyền và nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo thỏa thuận trong hợp đồng thời hạn vay là 84 tháng, kể từ ngày giải ngân (ngày 16/6/2011) đến ngày 15/5/2018, trả tiền vốn vay cuối kỳ, trả tiền lãi theo tháng. Sau đó, được Ngân hàng gia hạn thời hạn trả nợ đến ngày 04/6/2019, tiền lãi thỏa thuận là 06%/ năm, tiền lãi quá hạn là 7,8%/ năm.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ (tiền vốn và lãi) theo thoả thuận cho Ngân hàng và đến nay hợp đồng đã quá hạn thanh toán nợ nhưng bà D vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm về hợp đồng vay tài sản và vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Tại phiên tòa, người được ủy quyền lại của nguyên đơn xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, kể từ ngày vay cho đến nay bà D chỉ thanh toán được một phần tiền lãi là 1.442.950 đồng và trả tiền vốn vay là 3.000.000 đồng và xác định bà D còn nợ tiền vay vốn là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 12.459.250 đồng, nhưng bà D không có ý kiến phản đối.

Cho nên, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà D phải trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ là có cơ sở để chấp nhận. Về tiền lãi sau khi xem xét bảng kê tiền lãi (tóm tắt sao kê) ngày 13/01/2023 do Ngân hàng cung cấp tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với sự thoả thuận giữa hai bên và phù hợp theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.

Từ những nhận định và căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với bà D, buộc bà D phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tiền vay vốn là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 12.459.250 đồng, tổng cộng là 22.959.250 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/01/2023), bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán dứt nợ.

. Về án phí: Căn cứ khoản 5 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ngân hàng A khởi kiện vụ án thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải chịu án phí.

Bà Hồ Kim D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận là: 22.959.250 đồng x 5% = 1.147.962 đồng, tính tròn là 1.148.000 đồng.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, khoản 5 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005;

Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng;

Điểm c khoản 1 Điều 11, khoản 9 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Hồ Kim D. Buộc bà Hồ Kim D phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng các khoản tiền còn nợ tính đến ngày 13/01/2023, cụ thể như sau:

Tiền vay vốn là 10.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 13/01/2023 là 12.459.250 đồng, tổng cộng là 22.959.250 đồng (hai mươi hai triệu chín trăm năm mươi chín nghìn hai trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/01/2023), bà D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (gọi tắt là hợp đồng) cho đến khi thanh toán dứt nợ.

2. Về án phí: Bà Hồ Kim D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.148.000 đồng (một triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 13/01/2023); bà Hồ Kim D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ