- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng BĐLV và chị Hồ Thị L tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc chị Hồ Thị L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV số tiền nợ gốc và lãi trong hạn và lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2023 là: 32.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17 /2023/DS-ST. Ngày: 21/6/2023 "V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Đạt
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Phượng và bà Lê Thị Na
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 24/2023/TLST-DS, ngày 11 tháng 5 năm 2023; về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV.
Địa chỉ: 210 đường Trần Quang Khải, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S, chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tôn Thất Trường S1, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng BĐLV – Phòng giao dịch Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo giấy ủy quyền số: 108/2023/UQ-LPB.HUE ngày 20/02/2023 (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn H, xã Phong Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967; Địa chỉ: thôn H, xã Phong Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (Có đơn xin xét xử văng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2023 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn trình bày:
Chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L có phát sinh quan hệ vay tài sản với Ngân hàng TMCP BĐLV chi nhánh Huế - PGD Phong Điền, theo hợp đồng tín dụng số HDTD4712020308 ký ngày 24/08/2020 với số tiền 70.000.000 đồng, được chia thành 47 kỳ trả cả gốc và lãi vào ngày 02 hàng tháng. Trong quá trình vay vốn, kể từ ngày giải ngân đầu tiên đến nay, chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L đã trả cho Ngân hàng số tiền: 57.790.745 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu bảy trăm chín mươi nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó, gốc: 40.203.306 đồng; lãi: 17.587.439 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ, đốc thúc khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng nhiều biện pháp như gọi điện nhắc nợ, mời khách hàng lên ngân hàng làm việc…. song khách hàng vẫn không thiện chí, hợp tác để thanh toán gốc và lãi quá hạn. Tính đến ngày 23/12/2022, ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của khách hàng sang nợ quá hạn. Do chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng, nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế buộc chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi trong hạn, lãi phạt tạm tính đến ngày 15/05/2023 là 32.097.704 đồng, trong đó (Nợ gốc: 29.796.694 đồng; nợ lãi: 1.896.181 đồng và lãi quá hạn: 404.829 đồng).
Tại bản tự khai ngày 15/5/2023 bị đơn là chị Hồ Thị L trình bày: thừa nhận đã ký kết hợp đồng tín dụng số HDTD4712020308 ký ngày 24/08/2020 với số tiền 70.000.000 đồng với Ngân hàng TMCP BĐLV chi nhánh Huế - PGD Phong Điền, quá trình thực hiện hợp đồng chị L đã trả được số tiền nợ gốc là 40.203.295 đồng, nhưng do buôn bán thua lỗ nên chị L không trả số tiền gốc và lãi đúng hẹn như hợp đồng, chị L đề nghị được trả toàn bộ số tiền kể trên đến ngày 29/5/2024.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L trình bày, bà công nhận có ký vào hợp đồng tín dụng cùng con gái là Hồ Thị L để vay số tiền 70.000.000 đồng giúp cho chị L có vốn buôn bán và chị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng. Nay bà đề nghị chị L trả thay số tiền gốc và lãi còn lại cho Ngân hàng.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử; đại diện nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng; về yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ bổ sung một số vấn đề trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã tiến hành thu thập bổ sung.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP BĐLV chi nhánh Huế - PGD Phong Điền. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý cho bị đơn trả nợ hàng tháng mỗi tháng 1.000.000 đồng và lãi phát sinh. Nên buộc chị Hồ Thị L thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi trong hạn, lãi phạt tạm tính đến ngày 21/6/2023 là 32.827.695 đồng, mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết số tiền trên.
Buộc chị Hồ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Phía Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết xét xử bà Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà L.
Về yêu cầu xác minh thu thập chứng cứ theo công văn số: 01/YC-VKS-DS ngày 16/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền.
Về trình trạng hôn nhân của chị L tại thời điểm ký hợp đồng vay và hiện nay, qua xác minh tại UBND xã Phong Hải xác định chị L chưa đăng ký kết hôn với ai cả.
Đối với việc bà L cùng đứng tên kí vào hợp đồng vay tài sản, mục đích vay giúp cho chị L để có vốn buôn bán kinh doanh, như lời khai của bà L và việc này ông Hồ Đăng Huế chồng bà L không biết nên ông Huế không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Trường hợp bà Trương Thị Q là nhân viên của Ngân hàng TMCP BĐLV chi nhánh Huế - PGD Phong Điền, nên việc nộp tiền tạm ứng án phí là nộp cho Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV là nguyên đơn khởi kiện vụ án, quá trình giải quyết Tòa án không đưa bà Quý vào tham gia tố tụng là đúng quy định pháp luật.
. Về nội dung tranh chấp: Chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L có phát sinh quan hệ vay tài sản với Ngân hàng TMCP BĐLV chi nhánh Huế - PGD Phong Điền, theo hợp đồng tín dụng số HDTD4712020308 ký ngày 24/08/2020 với số tiền 70.000.000 đồng, được chia thành 47 kỳ trả cả gốc và lãi vào ngày 02 hàng tháng. Việc ký kết hợp đồng trên là tự nguyện và đúng quy định pháp luật, nên hợp đồng có hiệu lực từ ngày hai bên xác lập.
Trong quá trình vay vốn, kể từ ngày giải ngân đầu tiên đến nay, chị Hồ Thị L và Phạm Thị L đã trả cho Ngân hàng số tiền: 57.790.745 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu bảy trăm chín mươi nghìn bảy trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó, gốc: 40.203.306 đồng; lãi: 17.587.439 đồng. Đến cuối năm 2022 chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Phía Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện nhắc nợ, mời khách hàng lên ngân hàng làm việc và phát thông báo nợ quá hạn…. song chị L và bà L vẫn không hợp tác để thanh toán gốc và lãi quá hạn. Tính đến ngày 23/12/2022, ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của khách hàng sang nợ quá hạn. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế buộc chị Hồ Thị L và bà Phạm Thị L thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi trong hạn, lãi phạt tạm tính đến ngày 21/6/2023 là 32.827.695 đồng, trong đó:
Nợ gốc: 29.796.694 đồng; nợ lãi: 2.393.120 đồng và lãi quá hạn: 637.881 đồng.
Tại phiên tòa phía bị đơn chị Hồ Thị L thừa nhận số tiền còn nợ gốc và lãi mà nguyên đơn yêu cầu, đồng thời đề nghị hàng tháng sẽ trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền gốc và lãi kể trên. Chị L cũng đề nghị được trả nợ thay cho bà L.
Qua tranh luận đại diện nguyên đơn cũng đồng ý chấp nhận cho chị L là người chịu trách nhiệm thay bà L trả nợ cho Ngân hàng, đồng thời nêu quan điểm nếu chị L chấp nhận hàng tháng trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ thì Ngân hàng sẽ xem xét không yêu cầu phần lãi suất, nhưng do chị L vi phạm thời hạn trả nợ và không thống nhất phương án trên, nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc chị L phải thực hiện việc trả nợ theo quy định pháp luật.
Về xác định quan hệ tranh chấp và nội dung giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng dân sự “về việc vay tài sản”.
3.1 Do chị Hồ Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận; do vậy buộc bị đơn chị Hồ Thị L thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi trong hạn, lãi phạt là: Nợ gốc: 29.796.694 đồng; nợ lãi: 2.393.120 đồng và lãi quá hạn: 637.881 đồng (Tổng cộng: 32.827.695 đồng), tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2023.
3.2 Buộc chị Hồ Thị L phải tiếp tục trả tiền lãi nợ quá hạn cho Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV, theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay tính trên số nợ gốc thực tế, kể từ ngày 22/6/2023 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Hồ Thị L chịu án sơ thẩm trên số tiền phải trả là (32.827.695 đồng X 5%) = 1.641.384 đồng (làm tròn số 1.641.000 đồng).
- Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV đã nộp 780.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006849 ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 280; Điều 370; Điều 463; khoản 5 Điều 466 và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ khoản 3, Điều 26; Điều 35; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc chị Hồ Thị L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV số tiền nợ gốc và lãi trong hạn và lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2023 là: 32.827.695 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 29.796.694 đồng; nợ lãi: 2.393.120 đồng và lãi quá hạn: 637.881 đồng).
Buộc chị Hồ Thị L phải tiếp tục trả tiền lãi nợ quá hạn cho Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV, theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay tính trên số nợ gốc thực tế, kể từ ngày 22/6/2023 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc chị Hồ Thị L chịu án sơ thẩm trên số tiền phải trả là (32.827.695 đồng X 5%) = 1.641.384 đồng (làm tròn số 1.641.000 đồng).
- Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí Ngân hàng thương mại cổ phần BĐLV đã nộp 780.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006849 ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Án xử công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phong Điền; - THADS huyện Phong Điền; - Lưu: HSVA; - Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Đạt |