vanban.org

Bản án 17/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

Buộc ông Trầm Thanh T và bà Lâm Thị Hồng T có nghĩa vụ trả 206.500.000 đồng (Hai trăm lẽ sáu triệu, năm trăm nghìn đồng) cho bà Nguyễn Thị L. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp mua bán L và T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/DS-ST
Ngày 16/6/2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng
Mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Được.

Ông Huỳnh Văn Đương.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2022/TLST-DS, ngày 14/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXXST-DS, ngày 09/5/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2023/QĐST-DS, ngày 22/5/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L: Bà Lê Thị Minh K, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền đề ngày 17/3/2023. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L:

Luật sư Trầm Phú L – Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh - Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thái Hà – Chi nhánh tỉnh Trà Vinh. Địa chỉ: Số 192, đường Phạm Ngũ Lão, khóm 4, phường 1, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Bị đơn: Ông Trầm Thanh T, sinh năm 1975. Vắng mặt không có lý do.

Bà Lâm Thị Hồng T, sinh năm 1979. Vắng mặt không có lý do.

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T , huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L cùng bà Lê Thị Minh K là người đại diện hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L cùng trình bày:

Bà Nguyễn Thị L có bán gạo cho bà T, hợp đồng giao kết mua bán gạo thể hiện bằng lời nói, giao dịch mua bán gạo với nhau từ năm 2012 đến năm 2020 các bên đều thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, không tranh chấp.

Đối với giao dịch hợp đồng mua bán gạo vào tháng 07 năm 2021 (vụ Hè Thu năm 2021) vừa qua, ông T, bà T mua gạo gồm 03 đợt như sau:

- Ngày 04/7/2021 bà L bán cho ông T, bà T 50 túi gạo (mỗi túi là 25kg), giá 11.600 đồng/kg = 14.500.000 đồng.

- Ngày 21/7/2021 bà L bán cho ông T, bà T 280 túi gạo (mỗi túi là 25kg), giá 12.000 đồng/kg = 84.000.000 đồng.

- Ngày 22/7/2021 bà L bán cho ông T, bà T 360 túi gạo (mỗi túi là 25kg), giá 12.000 đồng/kg = 108.000.000 đồng.

Tổng số tiền mua gạo ông T, bà T còn nợ bà L số tiền 206.500.000 đồng, bà L đòi nợ nhiều lần, bà T đưa ra nhiều lý do, hẹn mà không trả. Ba đợt mua gạo nêu trên, chỉ có bà Lâm Thị Hồng T là người đứng ra giao kết hợp đồng với bà L, còn ông T chỉ tham gia chở gạo. Thời hạn thanh toán từng đợt bán gạo giao kết là sau khi nhận gạo khoảng 10 ngày phải trả tiền. Mỗi lần giao gạo bà L có ghi vào sổ, các lần giao dịch mua bán gạo vào ngày 04/7/2021; ngày 21/7/2021 và ngày 22/7/2021 bà T, ông T chưa có trả tiền. Sau đó bà Lâm Thị Hồng T có viết tờ biên nhận, tờ giấy bán gạo có nội dung ghi số tiền còn thiếu 206.500.000 đồng. Do bà T, ông T không trả tiền, tranh chấp xảy ra.

Nay bà Nguyễn Thị L yêu cầu giải quyết buộc ông Trầm Thanh T và bà Lâm Thị Hồng T phải trả số tiền mua gạo còn thiếu 206.500.000 đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L xin rút lại yêu cầu trả tiền lãi suất chậm trả và không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra bà L không có yêu cầu gì khác.

Luật sư Trầm Phú L là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L trình bày: Là thống nhất lời trình bày của bà L và bà K nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 117; điều 430, điều 440; khoản 3 điều 150; điều 429 của Bộ luật Dân sự; điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 27; 30, 37 của Luật hôn nhân và gia đình. Buộc ông Trầm Thanh T và bà Lâm Thị Hồng T phải trả số tiền mua gạo còn thiếu là 206.500.000 đồng. Đối với yêu cầu tính tiền lãi suất chậm trả, tại phiên tòa nguyên đơn bà L xin rút lại yêu cầu này, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có ý kiến gì khác.

- Tại phiên tòa bà Lâm Thị Hồng T và ông Trầm Thanh T là bị đơn trong vụ án: Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, nên không có lời trình bày.

Những tình tiết các bên đương sự thống nhất với nhau:

- Về số nợ còn thiếu: Tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải, bà L và bà T đều thống nhất là bà T còn thiếu bà L số tiền mua gạo 206.500.000 đồng chưa trả lá đúng.

- Về chứng cứ: Tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải, bà T thừa nhận tờ biên nhận, người viết tên Lâm Thị Hồng T; tờ giấy bán gạo có nội dung ghi số tiền 206.500.000 đồng, chính do bà T tự viết và ký tên.

Những tình tiết các bên đương sự không thống nhất với nhau:Không có.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật, các văn bản tố tụng đều tống đạt đầy đủ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị L. Buộc bà T và ông T phải trả 206.500.000 đồng cho bà L. Về lãi suất chậm trả, tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L rút lại yêu cầu này, đề nghị áp dụng Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết yêu cầu này. Buộc bà T, ông T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bà Lâm Thị Hồng T và ông Trầm Thanh T đều là bị đơn trong vụ án, tại phiên tòa lần thứ 02, bà Tươi và ông T đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy bà L khởi kiện buộc bà T, ông T trả số tiền mua gạo còn thiếu 206.500.000 đồng, bà L xin rút lại yêu cầu trả tiền lãi suất chậm trả, ngoài ra bà L không yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

. Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:

Xét thấy bà Nguyễn Thị L có bán gạo cho bà T, hợp đồng giao kết mua bán gạo thể hiện bằng lời nói, giao dịch mua bán gạo vào tháng 07 năm 2021 (vụ Hè Thu năm 2021) vừa qua, ông T, bà T mua gạo gồm 03 đợt như sau:

- Ngày 04/7/2021 bà Lan bán cho ông T, bà T 50 túi gạo (mỗi túi là 25kg), giá 11.600 đồng/kg = 14.500.000 đồng.

- Ngày 21/7/2021 bà L bán cho ông T, bà T 280 túi gạo (mỗi túi là 25kg), giá 12.000 đồng/kg = 84.000.000 đồng.

- Ngày 22/7/2021 bà L bán cho ông T, bà T 360 túi gạo (mỗi túi là 25kg), giá 12.000 đồng/kg = 108.000.000 đồng.

Tổng số tiền mua gạo ông T, bà T còn nợ bà Lan số tiền 206.500.000 đồng, bà L đòi nợ nhiều lần, bà T đưa ra nhiều lý do, hẹn mà không trả dẫn đến tranh chấp xảy ra.

Quá trình giải quyết vụ án, tại các bản khai bị đơn bà Lâm Thị Hồng T trình bày: Bà thừa nhận còn nợ bà L số tiền mua gạo 206.500.000 đồng chưa trả là đúng. Tờ biên nhận, người viết tên Lâm Thị Hồng T; tờ giấy bán gạo có nội dung ghi số tiền 206.500.000 đồng, chính do bà T tự viết và ký tên. Mục đích bà Tươi mua gạo để bán lại cho người khác, nay bà cùng ông Trầm Thanh T sẽ trả 206.500.000 đồng cho bà L. Do số tiền bà L khởi kiện đòi 206.500.000 đồng, bà T thừa nhận còn thiếu chưa trả, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết không phải chứng minh.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trầm Thanh T đều vắng mặt, nên phiên hòa giải không tiến hành được, tại phiên tòa lần thứ 02 ông T và bà T tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Xét thấy bà T có mua gạo của bà L, hiện còn nợ 206.500.000 đồng chưa trả là đúng sự thật, bà T mua gạo, ông T có tham gia vận chuyển gạo, rồi đem bán gạo lại cho người khác, mục đích kinh doanh mua bán, là sử dụng vào nhu cầu thiết yếu của gia đình, căn cứ khoản 2 Điều 27; khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình quy định thì bà T và ông T cùng có trách nhiệm liên đới trả số nợ này cho bà Lan là đúng pháp luật.

Từ những căn cứ, chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, buộc ông Trầm Thanh T và bà Lâm Thị Hồng T phải trả số tiền mua gạo còn thiếu là 206.500.000 đồng cho bà Nguyễn Thị L là hoàn toàn có căn cứ.

- Về lãi suất chậm trả: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án bà L yêu cầu trả tiền lãi suất chậm trả, mức lãi suất 0,83%/tháng, tính từ ngày 22/7/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L tự nguyện xin rút lại yêu cầu tính lãi suất và không yêu cầu giải quyết. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử yêu cầu này của bà Nguyễn Thị L.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà T và ông T phải chịu án phí theo quy định pháp luật (số tiền án phí được tính là 05% trên tổng số tiền mà bà T, ông T có nghĩa vụ trả cho bà L). Bà L không phải chịu án phí và sẽ được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí theo quy định.

Xét lời của Luật sư Trầm Phú L trình trình bày lời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị L nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét lời của Kiểm sát viên trình bày về trình tự thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35; Điều 92; các Điều 147, 228, 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 430, 433, 440 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

- Buộc ông Trầm Thanh T và bà Lâm Thị Hồng T có nghĩa vụ trả 206.500.000 đồng (Hai trăm lẽ sáu triệu, năm trăm nghìn đồng) cho bà Nguyễn Thị L.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Đình chỉ xét xử sơ thẩm về yêu cầu tính lãi suất chậm trả, do nguyên đơn bà Nguyễn Thị L rút lại yêu cầu này tại phiên tòa và không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông Trầm Thanh T và bà Lâm Thị Hồng T có nghĩa vụ nộp 10.325.000 đồng (Mười một triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí.

- Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L 5.590.975 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0012583, ngày 11/11/2022 do bà Nguyễn Thị L đứng tên nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu.

3. Về quyền kháng cáo:

- Bà Nguyễn Thị L có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bà Lâm Thị Hồng T và ông Trầm Thanh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ