vanban.org

Bản án 17/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Thu H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Thu H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đinh Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Q cùng gia đình bị cáo giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Thu H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ Q
TỈNH Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2022/HSST
Ngày: 28/03/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q, TỈNH Q

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tuấn Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

1, Bà Vũ Thị Lâm

2, Ông Đặng Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Q tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 03 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Q mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXXST ngày 15 tháng 03 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐINH THỊ THU H (không có tên gọi khác); Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1993, tại Q, Q; Nơi Cư trú: Thôn 8, xã H, thị xã Q, tỉnh Q; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đinh Văn N (đã chết); Con bà Vũ Thị D, sinh năm 1968; Bị cáo có chồng là Lục Đức T, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con: Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 12/11/2021, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Anh Đinh Văn V, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Thôn 10, xã H, thị xã Q, tỉnh Q. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Lê Khắc B, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh H. Vắng mặt.

2. Bà Vũ Thị D, sinh năm 1968.

Nơi cư trú: Thôn 8, xã H, thị xã Q, tỉnh Q. Có mặt.

3. Chị Đặng Thị L, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện T, tỉnh P. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/10/2021, Đinh Văn V trú tại thôn 10, xã H, thị xã Q, tỉnh Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14X1 - 211.60 đi đến nhà bà Vũ Thị D tại thôn 8, xã H, thị xã Q thì nhìn thấy chị Đặng Thị L trú tại thôn M, xã L, huyện T, tỉnh P đang đứng ở sân nhà bà D. V đi đến cầm và vặn tay chị L để trêu đùa, sau đó cả hai xảy ra cãi vã. Bà D thấy vậy chạy tới can ngăn thị bị V đẩy ngã, V tiếp tục đuổi theo L vào phòng khách. Anh Lê Khắc B (bạn bà D) thấy vậy chạy tới ôm giữ V, còn bà D cùng từ ngoài sân chạy vào trong nhà để ngăn V cho L chạy ra ngoài đường. Do bực tức, V nhặt 01 điếu cày dựng ở hiên nhà rồi lao vào phòng khách định đánh B. B dùng tay giằng co chiếc điếu cày với V từ trong phòng khách ra ngoài sân, lúc này H (con gái bà D) lấy ở bàn 01 chiếc kéo bằng kim loại, tổng chiều dài 23cm, lưỡi dài 12cm, bản lưỡi chập đôi rộng 02cm, mũi kéo nhọn, cán kéo bằng nhựa màu đỏ, chạy ra đứng phía sau lưng V đâm liên tiếp 04 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái vào lưng V gây thương tích. Thấy đau ở lưng nên V bỏ chạy ra ngoài cổng. Khoảng 15 phút sau V quay lại nhà bà D chửi bới, H thấy vậy nên đã gọi điện báo Công an. Sau đó V được một số người quen đưa đi cấp cứu.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 195/CN-BVBC ngày 25/10/2021 của Bệnh viện B xác nhận Đinh Văn V vào viện lúc 00 giờ 24 phút ngày 12/10/2021 có các vết thương: Vết thương giữa cột sống kích thước 02cm, bờ sắc gọn không rõ đáy; Vết thương 01cm vùng bờ dưới bả vai trái; Vết thương 0,5cm 1/3 mặt sau cánh tay trái. Đau tức ngực trái, khó thở nhẹ, phổi trái thông khí kém. Tràn máu, khí màng phổi trái. Khoang màng phổi trái có dịch dày 14mm.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 795/21/TgT ngày 04/11/2021 của Trung tâm giám định pháp y Sở y tế Q đối với Đinh Văn V, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Đinh Văn V là 13% sức khỏe. Các vết thương do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản kết luận giám định số 368/KLGĐ, ngày 11/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận: Chiếc kéo thu tại hiện trường gửi giám định, phần lưỡi kéo có tế bào máu của Đinh Văn V, các dấu vết nghi máu thu tại hiện trường gửi giám định là tế bào máu của Đinh Văn V.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKSQY, ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Q truy tố bị cáo Đinh Thị Thu H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Q tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Đinh Thị Thu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Thị Thu H từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Q cùng gia đình bị cáo giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

01 (một) chiếc kéo bằng kim loại tổng chiều dài 23cm, lưỡi dài 12cm, bản lưỡi rộng 02cm, mũi kéo nhọn, cán kéo bằng nhựa màu đỏ, kéo đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đinh Thị Thu H đã bồi thường100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho bị hại. Đồng thời bị hại anh Đinh Văn V cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thương thêm gì nên không đề cập giải quyết.

Tại phần tranh luận, bị cáo Đinh Thị Thu H không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q. Bị cáo thừa nhận việc truy tố đối với bị cáo là đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người làm chứng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 00 giờ 30 phút ngày 12/10/2021, sơ đồ hiện trường ngày 12/10/2021, bản ảnh hiện trường ngày 12/10/2021 của Công an thị xã Q, kết luận giám định thương tích số 795/21/TgT ngày 04/11/2021 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q, Kết luận giám định số 368/KLGĐ ngày 11/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 23 giờ ngày 11/10/2021, tại thôn 8, xã H, thị xã Q, tỉnh Q, Đinh Thị Thu H đã có hành vi dùng 01 chiếc kéo lưỡi bằng kim loại cán bằng nhựa màu đỏ có tổng chiều dài 23cm (lưỡi dài 12cm, bản lưỡi chập đôi rộng 02 cm) đâm vào phần lưng, vai và mặt sau cánh tay trái của Đinh Văn V dẫn tới anh V bị thương tích, tổn thương cơ thể là 13%.

Lời khai của bị hại anh Đinh Văn V có trong hồ sơ thể hiện:

Vào khoảng 23 giờ ngày 11/10/2021, sau khi uống rượu anh điều khiển xe mô tô đến nhà bà Vũ Thị D tại thôn 8, xã H, thị xã Q, tỉnh Q chơi. Khi đến có người ra mở cổng nhưng không nhớ là ai, bên trong nhà có bà D, chị H là con gái bà D và một người phụ nữ khoảng 40 tuổi cùng một người thanh niên khoảng 30 tuổi (sau này mới biết là chị L và anh B). Sau đó anh tới cầm tay chị L mục đích là trêu đùa thị bị chị L chửi do đó anh tức giận nên vẫn cầm giữ tay chị L không bỏ ra. Chị L vùng chạy vào trong nhà bà D, anh đi theo thì bà D cản anh lại. Anh chỉ xô đẩy, không đánh bà D. Lúc này anh B giữ anh lại ở sân nhà bà D. Anh tiếp tục giằng co với anh B. Anh có cầm một chiếc điếu cày định đánh anh B nhưng không đánh được. Lúc này bà D đứng ngoài có nói dừng lại và vào can ngăn nhưng do anh và anh B vẫn đang xô đẩy nhau nên bà D không kéo ra được. Trong lúc đang giằng co với anh B thì anh thấy đau nhói nhiều nhát ở vùng lưng, sườn bên phải. Anh quay lại thì thấy chị H đứng ngay sau lưng anh. Do trời tối nên anh không nhìn rõ chị H có cầm theo đồ vật gì hay không. Anh nói với chị H ” Con này mày đâm tao à”. Sau đó anh bỏ chạy ra khỏi nhà bà D rồi gọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã Q.

Nội dung đơn xin vắng mặt của bị hại Đinh Văn V thể hiện: Anh đã nhận số tiền bồi thường của bị cáo H là 100.000.000 đồng và anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Anh vẫn giữ nguyên quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của Người làm chứng bà Vũ Thị D tại phiên tòa thể hiện:

Vào khoảng 22 giờ ngày 11/10/2021, khi bà đang ngồi chơi trong nhà thì có một người đàn ông tên V đến nhà trong tình trạng say xỉn. Khi bà xuống nhà pha nước thì anh V và chị L có lời qua tiếng lại với nhau. Thấy thế bà liền đến can ngăn và nói “Thôi chị xin em, đừng cãi nhau nữa”. Anh V quay sang bà và nói “Tôi đánh chết cả bà”. Sau khi nói xong anh V lao vào đánh liên tiếp vào vùng đầu và người chị L. Thấy có đánh nhau, anh B là bạn bà vào can anh V và nói “Anh ơi anh đừng đánh phụ nữ làm gì em xin anh”. Anh V quay sang nói “Mày đánh bố mày đấy à” và đánh anh B. Trong lúc V và B giằng co thì L chạy ra ngoài bỏ trốn. Sau khi xô ngã anh B, anh V chạy ra ngoài tìm chị L nhưng không thấy. Anh V quay vào nhà, tay cầm chiếc điều cày bằng tre đập liên tiếp vào đầu anh B làm anh B ngã xuống sàn nhà. Thấy vậy con gái bà là chị Đinh Thị Thu H đến can ngăn. Trong lúc can ngăn thì bà bị anh V xô ngã xuống sàn nhà. Anh B và con gái bà ôm anh V đẩy ra khỏi nhà. Khi bà thấy ầm ĩ ngoài sân thì bà chạy ra thấy anh V lưng đã chảy máu. Một lúc sau bà thấy bạn anh V đến nhà bà rất đông và đưa anh V đi cấp cứu.

Người làm chứng anh Lê Khắc B có lời khai trong hồ sơ thể hiện:

Ngày 11/10/2021, anh ở nhà chị Vũ Thị D chơi. Ngoài ra còn có chị Đặng Thị L và con gái chị D là Đinh Thị Thu H. Khoảng 22 giờ cùng ngày có hai người đàn ông một người trung tuổi và một người sau này anh biết là anh Đinh Văn V vào nhà chị D. Lúc này chị L đi ra sân thì bị anh V cầm nắm giữ tay chị L lại. Anh thấy chị L nổi cáu và chửi anh V “Tao trẻ con với mày à, tao tát cho mày một nhát giờ”. Anh thấy anh V có biểu hiện say rượu, chửi lại và nói “Mày biết tao là ai không”. Chị L vùng bỏ chạy vào trong giường ở phía trong nhà chị D, chị D ra can ngăn thì bị anh V đẩy ngã ngồi ra sân, anh V đuổi theo chị L vào nhà và tiếp tục cãi nhau. Thấy vậy anh chạy vào thấy anh V định đánh chị L, chị L đỡ, né tránh, anh lao vào ôm giữ anh V từ phía sau. Chị L bỏ chạy xuống phòng ngủ của chị H và đóng cửa lại. Anh V quay lại chửi anh, định lao vào đánh anh thì chị D can ngăn thì anh V đẩy chị D ngã ngồi trong phòng khách. Anh V ra ngoài hiên lấy một chiếc điếu cày chỉ vào mặt anh hỏi anh “mày là thằng nào”. Anh nói “em ở H”. Anh V nói “mày về nhà ngay” thì anh không nói gì. Anh V cầm điếu cày lao vào vụt anh hai ba nhát, anh né tránh thì bị trúng một nhát vào khuỷu tay trái khi anh đưa tay đỡ. Chị D lao vào kéo tay anh V và anh đứng dậy giằng co chiếc điếu cày với anh V từ hiên nhà xuống sân trước cửa phòng chị H. Chị D ngồi trong nhà hô hét dừng lại. Anh và anh V đứng đối diện dùng tay giằng co chiếc điếu cày. Lúc này ở ngoài sân tối, anh thấy chị H cũng chạy từ trong nhà ra sân đứng sau anh V. Do lúc đó anh đang giằng co với anh V nên không để ý chị H có hành động như thế nào với anh V. Lúc này anh phát hiện anh V bị chảy máu ở sau lưng. Anh bỏ tay ra không giằng có với anh V nữa. Anh V bỏ chạy ra ngoài cổng. Anh có đuổi theo thì thấy anh V chạy ra đường về hướng thôn 10, xã H. Sau đó do sợ trả thù nên anh trốn lên nóc nhà. Khoảng 15 phút sau có nhiều thanh niên cùng anh V quay lại nhà chị D. Sau đó Công an xã H và Công an thị xã Q đến. Anh xuống làm việc với cơ quan Công an. Lúc này anh V đã được người quen đưa đi cấp cứu.

Lời khai của người làm chứng chị Đặng Thị L tại phiên tòa thể hiện:

Vào lúc khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 11/12/2021, anh Định Văn V trong tình trạng say rượu đến nhà bà Vũ Thị D tại thôn 8, xã H, thị xã Q thì gặp chị, anh V đã có hành động trêu đùa, kéo tay chị. Khi chị phản ứng thì anh V đe đánh và đuổi chị. Sau đó chị D và anh B căn ngăn nên chị đã chạy thoát ra ngoài. Sau đó sự việc xảy ra như nào thì chị không rõ.

Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đinh Thị Thu H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q đã quy kết đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm.

...2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm;

...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”

Bị cáo Đinh Thị Thu H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Đồng thời trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi và đã bị Công an thị xã Q ra Quyết định số 14/QĐ-XPHC ngày 11/02/2022 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đuổi đánh anh Lê Khắc B và chị Đặng Thị L. Bản thân bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo được tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình điều tra bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đ (một trăm triệu đồng). Đồng thời bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H. Do đó cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về trách nhiệm dân sự: Tại quá trình điều tra, truy tố, bị hại anh Đinh Văn V và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Về vật chứng:

Về vật chứng: 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại tổng chiều dài 23cm, lưỡi dài 12cm, bản lưỡi rộng 02cm, mũi kéo nhọn, cán kéo bằng nhựa màu đỏ, kéo đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí:

Buộc bị cáo Đinh Thị Thu H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Thu H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự); điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Thu H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Q, tỉnh Q cùng gia đình bị cáo giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” của Tòa án nhân dân thị xã Q đối bị cáo Đinh Thị Thu H.

2. Về vật chứng:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại tổng chiều dài 23cm, lưỡi dài 12cm, bản lưỡi rộng 02cm, mũi kéo nhọn, cán kéo bằng nhựa màu đỏ, kéo đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng trên thể hiện trong Biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 08/03/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q).

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Đinh Thị Thu H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Đinh Thị Thu H, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Đinh Văn V vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ